1. Nhận diện quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng
Căn cứ khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ các trường hợp sau:
• Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng được thừa kế riêng;
• Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng được tặng cho riêng;
• Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Quyền định đoạt quyền sử dụng đất chung của vợ chồng
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
Bên cạnh đó, căn cứ Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc định đoạt tài sản chung là quyền sử dụng đất phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng.
Trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên vợ hoặc chồng
Nhiều người lầm tưởng rằng chỉ cần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (“GCNQSDĐ”) đứng tên vợ hoặc chồng thì người đó có toàn quyền định đoạt đối với quyền sử dụng đất. Tuy nhiên trên thực tế, nếu có đủ căn cứ xác định quyền sử dụng đất trong trường hợp này là tài sản chung của vợ chồng thì việc định đoạt tài sản vẫn phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng.
Kết luận
Như vậy, nếu quyền sử dụng đất là tài sản chung, thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, thì mọi giao dịch liên quan đến việc định đoạt tài sản chung này đều phải thông qua sự thỏa thuận bằng văn bản của cả vợ và chồng, kể cả trong trường hợp GCNQSDĐ chỉ ghi tên vợ hoặc chồng.
3. Vợ hoặc chồng tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản chung thì việc chuyển nhượng sẽ như thế nào?
3.1. Nguyên tắc chung
Như đã đề cập trước đó, đối với quyền sử dụng đất chung của vợ chồng thì việc định đoạt (chuyển nhượng) quyền sử dụng đất phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng.
Vì vậy, việc vợ hoặc chồng tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản chung mà không được sự đồng ý/uỷ quyền bằng văn bản của bên còn lại có thể dẫn đến hậu quả giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu; Người còn lại có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng vô hiệu theo khoản 2 Điều 13 Nghị định 126/2014/NĐ-CP.
3.2. Trường hợp đặc biệt
3.2.1. Vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự
Căn cứ khoản 2 Điều 22, khoản 1 Điều 53 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 3 Điều 24 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, trường hợp vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự và người còn lại được xác định là người giám hộ đương nhiên thì việc thực hiện chuyển nhượng tài sản chung sẽ do người còn lại thực hiện.
Lúc này, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng chỉ có chữ ký của một người thì vẫn có hiệu lực pháp luật.
3.2.2. Án lệ số 04/2016/AL
Căn cứ khái quát nội dung Án lệ số 04/2016/AL, khi đáp ứng đủ các điều kiện sau, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng chỉ do một bên vợ hoặc chồng xác lập vẫn có hiệu lực pháp luật và có giá trị ràng buộc với bên còn lại:
• Bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên xác lập giao dịch chuyển nhượng biết và cùng sử dụng số tiền đó;
• Bên nhận chuyển nhượng đã nhận và quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất công khai, người không ký tên xác lập giao dịch chuyển nhượng biết mà không có ý kiến phản đối gì.
3.3. Kết luận
Như vậy, trường hợp một bên vợ hoặc chồng tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng mà không có sự đồng ý của bên còn lại thì giao dịch chuyển nhượng sẽ bị vô hiệu, trừ trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự/người còn lại biết về giao dịch chuyển nhượng nhưng không có ý kiến phản đối và cùng sử dụng số tiền thu được từ giao dịch chuyển nhượng.
4. Hậu quả pháp lý khi giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất chung của vợ chồng do một bên vợ hoặc chồng tự ý xác lập vô hiệu
Căn cứ Khoản 2 Điều 131 và Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất chung của vợ chồng do một bên vợ hoặc chồng tự ý xác lập vô hiệu sẽ dẫn đến các hậu quả pháp lý sau:
• Giao dịch chuyển nhượng không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên từ thời điểm giao dịch được xác lập;
• Tiền chuyển nhượng sẽ được trả lại cho bên nhận chuyển nhượng và quyền sử dụng đất sẽ được trả lại cho bên chuyển nhượng;
• Việc đăng ký biến động đất đai đứng tên người nhận chuyển nhượng (nếu có) sẽ bị hủy bỏ;
• Bên có lỗi gây ra thiệt hại phải bồi thường.
Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình
Trong trường hợp giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký và chuyển giao cho người thứ ba ngay tình, giao dịch giữa người nhận chuyển nhượng và người thứ ba này sẽ không bị vô hiệu.
Lúc này, bên vợ hoặc chồng không ký tên xác lập giao dịch chuyển nhượng sẽ không có quyền đòi lại quyền sử dụng đất từ người thứ ba ngay tình, nhưng có quyền khởi kiện yêu cầu bên có lỗi (vợ hoặc chồng của họ) bồi thường thiệt hại.
Tính hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong trường hợp vợ hoặc chồng tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản chung cần được đánh giá một cách toàn diện trên cơ sở phân tích bản chất pháp lý của tài sản chung, mối quan hệ giữa các bên trong giao dịch, mức độ ngay tình của bên thứ ba và nguyên tắc bảo vệ sự ổn định của quan hệ dân sự. Việc áp dụng các quy định pháp luật không nên máy móc, mà cần linh hoạt trong bối cảnh cụ thể, đảm bảo sự cân bằng giữa nguyên tắc bảo vệ tài sản hợp pháp của vợ/chồng bị xâm phạm và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba ngay tình. Trong bối cảnh ngày càng phát sinh nhiều giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng, việc hoàn thiện cơ chế pháp lý để tăng cường minh bạch thông tin sở hữu, bắt buộc xác minh tình trạng hôn nhân và chữ ký của cả vợ và chồng trong giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất là cần thiết. Đồng thời, việc thống nhất áp dụng pháp luật trong xét xử cũng là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ Dân sự - Hôn nhân và Gia đình.
Thông tin liên hệ
CÔNG TY LUẬT TNHH DL PINNACLE
Địa chỉ: Tầng 3, 18A/76 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh
Hotline: 0914.491.911
Email: info@dlpinnacle.vn
Website: https://www.dlpinnacle.vn