1. “Sổ đỏ” là gì?
“Sổ đỏ” là ngôn ngữ thường ngày mà người dân dùng để gọi tên “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, do màu sắc bên ngoài của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mẫu cũ có màu đỏ.
Căn cứ Luật Đất đai năm 2024, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất.
2. Đối tượng nào được cấp “sổ đỏ”?
Căn cứ Luật Đất đai năm 2024, “sổ đỏ” được cấp cho người có quyền sử dụng đất, cụ thể là người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; đang sử dụng đất ổn định và có đủ điều kiện được cấp “sổ đỏ”, bao gồm:
• Cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, đơn vị vũ trang nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật;
• Tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đầu tư;
• Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc;
• Cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam;
• Cộng đồng dân cư;
• Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao;
• Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài;
• Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
3. Quyền của người đứng tên trên “sổ đỏ”
Theo Luật Đất đai năm 2024, người đứng tên trên “sổ đỏ” được xác định là chủ sở hữu đối với quyền sử dụng đất và có quyền sau:
• Sử dụng đất theo ý chí riêng, nhưng phải đảm bảo không gây thiệt hại hoặc ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
• Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
• Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất.
• Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp.
• Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp.
• Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.
• Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định.
• Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.
4. Rủi ro khi nhờ người khác đứng tên trên “sổ đỏ”
4.1. Không được bồi thường khi đất bị thu hồi
Theo Luật Đất đai năm 2024, khi Nhà nước thu hồi đất, nếu đủ điều kiện được bồi thường thì người được nhờ đứng tên trên “sổ đỏ” (“sau đây gọi tắt là “Người được nhờ”), với tư cách là chủ sở hữu hữu hợp pháp quyền sử dụng đất, sẽ được bồi thường.
Lúc này, nếu suôn sẻ thì chủ nhân thực sự của quyền sử dụng đất (người nhờ người khác đứng tên trên “sổ đỏ”) (sau đây gọi tắt là “Chủ đất”) sẽ được nhận lại tiền từ Người được nhờ. Nhưng nếu Người được nhờ nổi lòng tham không chịu trả tiền thì chắc chắn sẽ nảy sinh tranh chấp giữa các bên.
4.2. Nguy cơ mất tài sản
Trường hợp Người được nhờ không muốn trả lại
Về mặt pháp lý, Người được nhờ được coi là chủ sở hữu hợp pháp quyền sử dụng đất và có toàn quyền định đoạt đối với quyền sử dụng đất. Do đó, nếu họ nảy sinh lòng tham, muốn chiếm đoạt tài sản thì Chủ đất sẽ có nguy cơ “mất trắng” tài sản do gặp khó khăn trong việc chứng minh nguồn gốc thực sự của quyền sử dụng đất.
Trường hợp Người được nhờ chết
Khi Người được nhờ chết thì quyền sử dụng đất khi đó sẽ là di sản thừa kế. Nếu những người thừa kế của họ không thừa nhận hoặc không biết nguồn gốc quyền sử dụng đất là do được “nhờ” đứng tên thì rất dễ xảy ra tranh chấp.
Trường hợp Người được nhờ có nghĩa vụ tài sản
Khi Người được nhờ có nghĩa vụ tài sản với người thứ ba thì quyền sử dụng đất sẽ có nguy cơ bị kê biên để thực hiện nghĩa vụ của họ.
Lúc này, quyền, lợi ích của Chủ đất sẽ không được đảm bảo, thậm chí bị “mất trắng” nếu không có chứng cứ để chứng minh nguồn gốc thực sự của quyền sử dụng đất.
4.3. Khó lấy lại tài sản khi tài sản được chuyển giao cho người thứ ba
Khi Người được nhờ chuyển giao quyền sử dụng đất cho người thứ ba ngay tình (người hoàn toàn không biết về việc nhờ đứng tên) thì Chủ đất rất khó đòi lại tài sản, ngay cả khi họ có thể chứng minh được việc nhờ đứng tên, bởi lẽ:
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Người được nhờ chuyển nhượng đất cho người thứ ba khi quyền sử dụng đất đã được đăng ký hợp pháp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho họ, người thứ ba đã tin tưởng vào thông tin đăng ký hợp pháp đó để thực hiện giao dịch, nên giao dịch giữa Người được nhờ và người thứ ba ngay tình không vô hiệu và Chủ đất không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình.
5. Làm thế nào để lấy lại quyền sử dụng đất đã nhờ người khác đứng tên?
5.1. Thương lượng, thoả thuận
Trường hợp Người được nhờ đồng ý trả lại quyền sử dụng đất, các bên tiến hành xác lập hợp đồng chuyển nhượng/tặng cho có công chứng, chứng thực để thực hiện thủ tục đăng ký biến động quyền sử dụng đất.
5.2. Hoà giải tại Uỷ ban nhân dân cấp xã
Nếu các bên không thể tự thoả thuận thì có thể gửi đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2024, hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp trong trường hợp này là thủ tục bắt buộc trước khi khởi kiện ra Tòa án.
5.3. Khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền.
Trường hợp Người được không đồng ý trả lại quyền sử dụng đất thì Chủ đất có thể tiến hành khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền để đòi lại tài sản.
Lúc này, Chủ đất cần cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh có tồn tại thoả thuận nhờ đứng tên trên “sổ đỏ” giữa các bên như: Cam kết/thoả thuận bằng văn bản, có làm chứng, ký xác nhận giữa các bên; Sao kê chuyển tiền; Lời khai của người làm chứng; Lịch sử tin nhắn, ghi âm cuộc gọi,…
Toà án sẽ căn cứ vào kết quả xác minh nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, các chứng cứ, tài liệu các bên đưa ra để xác định ai là người có quyền sử dụng đất thực sự.
Có thể thấy, việc nhờ người khác đứng tên trên “sổ đỏ” chẳng khác nào đánh cược cả gia sản của mình vào sự trung thực và thiện chí của người khác. Trong khi pháp luật luôn đề cao sự minh bạch, thì mọi “lối tắt” đều tiềm ẩn nguy cơ biến thành “ngõ cụt”. Vì vậy, thay vì đặt niềm tin mù quáng, người sử dụng đất cần tìm giải pháp hợp pháp, an toàn để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình; không nên nhờ người khác tham gia giao dịch và đứng tên giùm trên “sổ đỏ” để tránh những tranh chấp khiếu kiện, vừa mất tình cảm vừa có nguy cơ “mất trắng” tài sản.
Thông tin liên hệ
CÔNG TY LUẬT TNHH DL PINNACLE
Địa chỉ: Tầng 3, 18A/76 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh
Hotline: 0914.491.911
Email: info@dlpinnacle.vn
Website: https://www.dlpinnacle.vn