Vợ Hoặc Chồng Ký Giấy Vay, Người Kia Có Phải Cùng Trả Nợ Không?
Phân tích nguyên tắc xác định nợ chung và nợ riêng của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, trong khi chỉ một bên ký hợp đồng vay tài sản thì hợp đồng vay đó có hiệu lực hay không, bài viết sau sẽ phân tích điều đó.
Mục lục
I. Nguyên tắc xác định nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng:
2.1. Khoản vay do một bên vợ hoặc chồng xác lập được coi là nghĩa vụ chung về tài sản:
2.2. Khoản vay do một bên vợ hoặc chồng xác lập được coi là nghĩa vụ riêng về tài sản:
III. Nghĩa vụ chứng minh khi phát sinh tranh chấp về nợ chung của vợ chồng:
Trong đời sống hôn nhân và gia đình, việc một bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch vay tài sản nhằm phục vụ các nhu cầu sinh hoạt, đầu tư, kinh doanh của gia đình hay nhằm những mục đích khác là tình huống diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, thực tiễn việc xác định nghĩa vụ hoàn trả khoản vay khi chỉ một bên vợ hoặc chồng xác lập giao dịch vay tài sản lại thường dẫn đến phát sinh nhiều tranh chấp pháp lý, đặc biệt khi bên cho vay yêu cầu cả 02 (hai) vợ chồng cùng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch vay hoặc khi vợ chồng ly hôn dẫn đến tranh chấp về nợ chung. Việc xác định nghĩa vụ hoàn trả khoản vay trong trường hợp này là nghĩa vụ chung hay nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bên cho vay mà còn tác động trực tiếp đến quyền sở hữu đối với tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng cũng như trách nhiệm pháp lý của các bên đối với khoản vay phát sinh trong thời kì hôn nhân.
Từ đó, vấn đề pháp lý quan trọng đặt ra là liệu nghĩa vụ hoàn trả khoản vay khi chỉ một bên vợ hoặc chồng trực tiếp ký kết, xác lập giao dịch vay có đương nhiên thuộc về cả 02 (hai) vợ chồng hay chỉ thuộc về người trực tiếp ký tên trên giấy vay.
I. Nguyên tắc xác định nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng:
Việc xác định nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng được đặt trên cơ sở phân biệt giữa nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng và nghĩa vụ riêng về tài sản của từng bên. Đây là nguyên tắc quan trọng để xác định trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng xác lập giao dịch vay tài sản thì người còn lại có phải cùng thực hiện nghĩa vụ hoàn trả khoản vay hay không. Pháp luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam không mặc nhiên rằng cứ khoản vay phát sinh trong thời kỳ hôn nhân là nợ chung, cũng không phải cứ một bên vợ hoặc chồng ký giấy vay thì người còn lại không ký giấy vay đương nhiên vô can. Do đó, để xác định chủ thể có nghĩa vụ hoàn trả khoản vay thì phải xác định trước khoản vay là nghĩa vụ chung hay nghĩa vụ riêng về tài sản theo quy định.
Theo quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì có thể hiểu nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng được xác định dựa trên nguồn gốc và mục đích của nghĩa vụ, cụ thể, vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản đối với:
- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
- Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
- Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.
Ngược lại, Điều 45 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định những nghĩa vụ riêng về tài sản mà một bên vợ hoặc chồng phải tự chịu trách nhiệm, cụ thể gồm:
- Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;
- Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.
Có thể thấy rằng, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng được xác định dựa trên tính độc lập của giao dịch và lợi ích mà giao dịch mang lại.
II. Vợ chồng có phải cùng chịu trách nhiệm liên đới trong trường hợp chỉ một bên vợ hoặc chồng xác lập giao dịch vay?
Cơ sở để xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng khi chỉ một bên vợ hoặc chồng xác lập giao dịch vay không chỉ dựa trên việc chủ thể nào trực tiếp ký kết giấy vay hay việc khoản vay phát sinh trong thời kì hôn nhân hay không, mà còn phụ thuộc vào bản chất của khoản vay đó được sử dụng vào mục đích gì và người còn lại có biết, có đồng ý hay không. Do đó, việc vợ chồng có phải cùng chịu trách nhiệm liên đới đối với khoản vay trong trường hợp này hay không thì cần phải xem xét khoản vay đó khi nào được coi là nghĩa vụ chung về tài sản và khi nào được coi là nghĩa vụ riêng về tài sản.
2.1. Khoản vay do một bên vợ hoặc chồng xác lập được coi là nghĩa vụ chung về tài sản:
Nhiều người thường nghĩ rằng “không ký là không liên quan” nên đương nhiên không phải cùng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch vay. Tuy nhiên, thực tế quy định pháp luật không đơn giản như vậy. Căn cứ theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì mặc dù vợ hoặc chồng không trực tiếp xác lập giao dịch vay tài sản cũng như không biết về việc xác lập giao dịch vay tài sản nhưng khoản vay đó nhằm phục vụ lợi ích gia đình như “đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; tạo lập, phát triển, duy trì tài sản chung; phục vụ hoạt động kinh doanh chung, tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình” thì khoản vay do một bên vợ hoặc chồng xác lập vẫn được coi là nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng.
Khi đó, cả 02 (hai) vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch vay tài sản theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Ví dụ: Người vợ trực tiếp xác lập giao dịch vay tiền, sau đó, toàn bộ số tiền vay được sử dụng để mở cửa hàng kinh doanh cho cả gia đình, sửa nhà chung, đóng học phí cho con, đáo hạn ngân hàng để giữ tài sản chung,… Mặc dù, giấy vay tiền chỉ do người vợ đứng tên và ký kết nhưng vẫn có thể xác định khoản vay là nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng do toàn bộ số tiền vay được sử dụng phục vụ lợi ích gia đình hoặc người chồng biết và cùng hưởng lợi từ khoản vay đó. Từ đó, cả 02 (hai) vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm liên đới hoàn trả toàn bộ khoản vay.
2.2. Khoản vay do một bên vợ hoặc chồng xác lập được coi là nghĩa vụ riêng về tài sản:
Trường hợp một bên vợ hoặc chồng tự ý xác lập giao dịch vay tài sản để phục vụ lợi ích cá nhân mà không vì nhu cầu của gia đình như “đầu tư, kinh doanh cá nhân; tiêu dùng cá nhân; đánh bạc; ngoại tình;...” và không có sự thỏa thuận của người còn lại thì căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 45 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khoản vay do một bên vợ hoặc chồng xác lập được coi là nghĩa vụ riêng về tài sản của người vợ hoặc chồng trực tiếp xác lập giao dịch vay đó.
Khi đó, chỉ người vợ hoặc chồng trực tiếp xác lập giao dịch vay mới phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả khoản vay, người còn lại không phải cùng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch vay.
Ví dụ: Anh A và chị B có mối quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong thời kỳ hôn nhân, anh A tự ý xác lập giao dịch vay số tiền 300.000.000 đồng để đầu tư kinh doanh cá nhân và đánh bạc. Chị B không biết việc anh A xác lập giao dịch vay nêu trên và cũng không ký kết giấy vay, không hưởng lợi từ số tiền vay nên toàn bộ khoản vay do anh A xác lập được xác định là nghĩa vụ riêng về tài sản của anh A. Giao dịch vay do anh A xác lập được phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nhưng chị B không phải cùng chịu trách nhiệm liên đới đối với khoản vay.
III. Nghĩa vụ chứng minh khi phát sinh tranh chấp về nợ chung của vợ chồng:
Trong tranh chấp về nợ chung khi bên cho vay yêu cầu cả 02 (hai) vợ chồng cùng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch vay tài sản do một bên vợ hoặc chồng xác lập hoặc khi ly hôn một bên vợ hoặc chồng yêu cầu người còn lại cùng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch vay tài sản do một bên xác lập, điều quan trọng là phải xác định được tài liệu, chứng cứ chứng minh bản chất, nguồn gốc và mục đích của khoản vay.
Bởi lẽ, nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự là “ai yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ thì phải chứng minh”. Bên cho vay hoặc một bên vợ hoặc chồng có yêu cầu xác định trách nhiệm liên đới của cả 02 (hai) vợ chồng đối với giao dịch vay tài sản chỉ do một bên vợ hoặc chồng xác lập thì bên cạnh nghĩa vụ chứng minh việc xác lập khoản vay (cung cấp tài liệu như: giấy vay, hợp đồng vay, chứng từ giao nhận tiền, sao kê chuyển khoản,...), còn có nghĩa vụ chứng minh khoản vay được sử dụng phục vụ lợi ích gia đình hoặc người còn lại biết và cùng hưởng lợi từ khoản vay đó. Ngược lại, người vợ hoặc chồng không trực tiếp xác lập giao dịch vay tài sản, không ký giấy vay cũng có thể chứng minh rằng mình không biết, không tham gia giao dịch, không thỏa thuận vay và khoản vay không được sử dụng phục vụ lợi ích gia đình cũng như mình không được hưởng lợi từ khoản vay.
Tài liệu, chứng cứ dùng để chứng minh bản chất, nguồn gốc và mục đích của khoản vay có thể gồm: Sao kê chuyển khoản; tin nhắn trao đổi; ghi âm; việc cùng đứng tên tài sản hình thành sau khi vay; chứng cứ sửa chữa nhà; giấy tờ đầu tư kinh doanh chung; lời khai của người làm chứng; hóa đơn, chứng từ thanh toán;...
Thực tiễn hiện nay, sự chủ quan và hạn chế về kiến thức pháp luật đối với các giao dịch vay tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân còn diễn ra khá nhiều. Có những giao dịch vay có giá trị lớn nhưng cũng chỉ ký kết, xác lập với một bên vợ hoặc chồng, khi phát sinh tranh chấp về giao dịch vay thì người còn lại phủ nhận hoàn toàn trách nhiệm. Ngược lại, cũng có nhiều người vô tình “gánh nợ oan” vì không quản lý, kiểm soát được các giao dịch tài chính của vợ hoặc chồng mình. Do đó, để hạn chế việc phát sinh tranh chấp, bên cho vay cần xác minh rõ chủ thể vay, mục đích sử dụng khoản vay và sự tham gia của vợ hoặc chồng trong giao dịch trước khi quyết định cho vay. Vợ, chồng cũng nên có sự thống nhất rõ ràng đối với những khoản vay có giá trị lớn, đặc biệt khi khoản vay liên quan đến tài sản chung hoặc có khả năng ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình. Việc lập văn bản đầy đủ và lưu giữ các tài liệu, chứng cứ liên quan sẽ góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên khi tranh chấp phát sinh.
Thông tin liên hệ
| Thông tin | Liên hệ |
|---|---|
| Địa chỉ | Tầng 5, 25 Nguyễn Văn Nguyễn, phường Tân Định, Thành phố Hồ Chí Minh |
| Hotline | 0914491911 |
| info@dlpinnacle.vn | |
| Website | https://www.dlpinnacle.vn |