DL PINNACLE – ĐIỂM TỰA PHÁP LÝ, VỊ THẾ TIÊN PHONG
CALL zalo facebook scroll to tOP

Ranh Giới Giữa Tranh Chấp Dân Sự Và Hành Vi Phạm Tội Trong Quan Hệ Vay Tài Sản

Luật sư: Nguyễn Bá Tùng
Cập nhật: 00:17, Chủ Nhật 27/09/2026

Bài viết giải thích trường hợp người vay mượn tài sản không trả tiền, hoặc mất khả năng thanh toán, thì có dấu hiệu tội phạm lừa đảo hay lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạn tài sản.

Ranh Giới Giữa Tranh Chấp Dân Sự Và Hành Vi Phạm Tội Trong Quan Hệ Vay Tài Sản

Vay tài sản là một trong những giao dịch dân sự phổ biến trong đời sống xã hội thường ngày, giao dịch này thường được xác lập dưới nhiều hình thức như hợp đồng, giấy mượn tiền, giấy cam kết hoặc thông qua hành vi của các bên như lời nói và hành vi cụ thể. Khi nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc và tiền lãi không được thực hiện đúng thời hạn hoặc không thực hiện đầy đủ, tranh chấp dân sự giữa bên vay và bên cho vay sẽ phát sinh.

Tuy nhiên, trên thực tế, ranh giới giữa một vi phạm nghĩa vụ dân sự thuần túy và hành vi có dấu hiệu tội phạm hình sự thường dễ bị lẫn lộn, dẫn đến việc người cho vay thường gửi đơn tố giác tội phạm hoặc người vay cố tình né tránh nghĩa vụ trả nợ. Việc xác định rõ khi nào hành vi chậm hoặc không trả nợ dừng lại ở tranh chấp dân sự và khi nào cấu thành dấu hiệu tội phạm hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng đúng pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.

1. Quan hệ vay tài sản là quan hệ dân sự:

Căn cứ theo Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về “Hợp đồng vay tài sản” được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay. Trong thực tế, đối tượng của hợp đồng vay tài sản thường là tiền, vàng hoặc các tài sản tương tự. Khi đến hạn thanh toán, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Đối với nghĩa vụ trả nợ của bên vay, căn cứ theo Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định bên vay có nghĩa vụ trả lại đầy đủ tài sản khi đến hạn theo thoả thuận của các bên. Tuỳ thuộc vào thoả thuận giữa các bên là khoản vay có lãi hay không có lãi, thời hạn vay, nghĩa vụ thanh toán liên quan mà bên vay có nghĩa vụ thực hiện trả nợ tương ứng. Trường hợp bên vay không thực hiện nghĩa vụ đúng hạn, trả không đầy đủ hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì về nguyên tắc, trước hết đây là vấn đề phát sinh từ quan hệ nghĩa vụ dân sự và được xem xét, giải quyết trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên và quy định của pháp luật dân sự.

Về bản chất, tại thời điểm xác lập quan hệ vay, nếu các bên thực sự có sự thỏa thuận về việc chuyển giao tài sản để bên vay sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và có nghĩa vụ hoàn trả khi đến hạn thì đây là quan hệ dân sự về vay tài sản. Bên vay có thể sử dụng khoản tiền vay để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, đầu tư hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh; trong khi đó, bên cho vay có thể cho vay nhằm hưởng khoản lãi theo thỏa thuận hoặc xuất phát từ quan hệ quen biết, tin tưởng giữa các bên. Việc bên vay sau đó không có khả năng thanh toán, thanh toán không đầy đủ hoặc chậm thanh toán chưa đủ cơ sở để xác định người vay có hành vi chiếm đoạt tài sản.

2. Khi nào tranh chấp vay tiền có thể chuyển sang vấn đề hình sự?

Để xác định một quan hệ vay tài sản chỉ dừng lại ở tranh chấp dân sự hay đã phát sinh dấu hiệu của hành vi phạm tội, cần xem xét toàn bộ quá trình: từ thời điểm xác lập giao dịch vay, việc giao nhận tài sản, mục đích sử dụng tài sản vay, diễn biến sự việc và đặc biệt là ý thức chủ quan của bên vay tại từng thời điểm có liên quan, chứ không thể chỉ đánh giá riêng vào việc hậu quả là người vay không có khả năng thanh toán và người cho vay bị mất tiền không thể thu hồi. Đây là cơ sở quan trọng để phân biệt trường hợp bên vay thực sự phát sinh khó khăn hay xuất hiện hành vi có dấu hiệu nhằm chiếm đoạt tài sản.

Trong quy định của Bộ luật Hình sự 2015 về các tội xâm phạm sở hữu, có hai tội danh thường được đặt ra đối với tranh chấp vay tài sản là:

“Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; và

“Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2.1. Trường hợp có dấu hiệu của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015)

Điểm quan trọng cần xem xét đối với hành vi lừa đảo của tội danh này là người phạm tội có sử dụng thủ đoạn gian dối, sử dụng những thông tin giả để làm đối phương tin tưởng và giao tài sản hay không; và ý thức chiếm đoạt đã có trước hoặc có ngay tại thời điểm thực hiện hành vi. Từ đó, chủ tài sản đã tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội, sau khi nhận được tài sản thì chiếm đoạt tài sản đó.

Trong quan hệ vay tiền, để đánh giá hành vi có dấu hiệu của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự, cần làm rõ:

Người vay có đưa ra thông tin gian dối, sử dụng giấy tờ giả hoặc thủ đoạn khác nhằm tạo dựng niềm tin và làm cho bên cho vay quyết định giao tiền hay không.

Tại thời điểm vay và nhận tiền, người vay có sẵn mục đích chiếm đoạt tài sản hay không.

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gian dối với việc bên cho vay giao tài sản.

Trường hợp chứng minh được người vay ngay từ thời điểm giao kết và nhận tiền đã sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm làm cho bên cho vay tin tưởng, giao tài sản để sau đó chiếm đoạt thì hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh này.

Ngược lại, nếu các bên đơn thuần chỉ xác lập giao dịch vay một cách bình thường, người vay thực tế nhận tiền và ban đầu có ý thức thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng sau đó phát sinh khó khăn về tài chính khách quan dẫn đến mất khả năng thanh toán, thì chỉ riêng việc không trả được nợ chưa đủ căn cứ để kết luận có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

2.2. Trường hợp có dấu hiệu của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 của Bộ luật Hình sự 2015)

Khác với tội lừa đảo, đối với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tài sản ban đầu được chủ sở hữu tự nguyện giao cho người nhận trên cơ sở sự tin tưởng, tín nhiệm hợp pháp. Sau khi đã nhận được tài sản một cách hợp pháp, người nhận mới phát sinh ý thức chiếm đoạt và thực hiện các hành vi nhằm trốn tránh nghĩa vụ hoàn trả. Do đó, điểm mấu chốt để phân biệt hai tội danh này là thời điểm phát sinh ý thức chiếm đoạt và phương thức có được tài sản.

Vì vậy, cần xem xét toàn diện các tình tiết phát sinh sau thời điểm người vay được giao tài sản, đặc biệt là các dấu hiệu theo Điều 175 Bộ luật Hình sự:

Người vay có hành vi bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản;

Sử dụng thủ đoạn gian dối sau khi nhận tài sản để chiếm đoạt;

Có điều kiện, khả năng thực tế nhưng cố tình không trả;

Sử dụng tài sản vay vào mục đích bất hợp pháp (như đánh bạc, buôn lậu...) dẫn đến mất khả năng hoàn trả.

Do đó, việc xác định tội danh này phải dựa trên hành vi cụ thể và ý thức của người nhận sau khi nhận tài sản, không thể chỉ căn cứ vào việc khoản vay đã quá hạn.

3. Một số tình huống dễ bị nhầm lẫn trong quan hệ tranh chấp dân sự vay tài sản:

3.1. Vay tiền nhưng mất khả năng thanh toán

Ví dụ: A vay tiền B để sử dụng cho mục đích kinh doanh. Sau khi nhận được tiền, A tiến hành đầu tư nhưng rủi ro dẫn đến thua lỗ, tài chính kiệt quệ và mất khả năng thanh toán nợ đúng hạn.

Trong trường hợp này, cần phân định rạch ròi giữa khả năng trả nợ với ý thức chiếm đoạt tài sản. Việc bên vay bị mất khả năng thanh toán không mặc nhiên đồng nghĩa với việc họ có ý định chiếm đoạt tài sản ngay từ đầu. Đây thuần túy là rủi ro trong giao dịch dân sự.

3.2. Vay tiền rồi không liên lạc được nữa / không còn ở nơi cư trú cũ

Ví dụ: Sau khi B hoàn tất chuyển tiền vay cho A, B không thể liên lạc được với A nữa hoặc tìm đến nơi cư trú thì phát hiện A đã chuyển đi nơi khác.

Trường hợp này cần làm rõ lý do, thời điểm và mục đích của việc thay đổi nơi cư trú hoặc gián đoạn liên lạc:

Liệu đây có phải là hành vi cố tình bỏ trốn nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ hay do chuyển nơi làm việc, chuyển chỗ ở vì lý do cá nhân khác?

Có hành vi che giấu thông tin, chặn mọi phương thức liên hệ hay không?

Cần đánh giá toàn diện các tình tiết trước, trong và sau khi nhận tài sản để xác định ý thức chủ quan của người vay.

KẾT LUẬN:

Từ những phân tích trên, việc phân định giữa tranh chấp dân sự và hành vi có dấu hiệu tội phạm trong quan hệ vay tài sản không thể chỉ dựa vào hậu quả người vay không trả nợ, người cho vay bị thiệt hại hay giá trị khoản nợ lớn, mà cốt lõi phải dựa trên:

Phương thức nhận tài sản (ngay từ đầu có gian dối hay dựa trên tín nhiệm hợp pháp?);

Thời điểm phát sinh ý thức chiếm đoạt (trước, trong hay sau khi nhận tiền?);

Hành vi thực tế sau khi nhận tài sản (sử dụng tiền vào việc gì, có bỏ trốn, tẩu tán tài sản hay có khả năng nhưng cố tình chây ì không trả?).

Thông tin liên hệ

Thông tinLiên hệ
Địa chỉTầng 5, 25 Nguyễn Văn Nguyễn, phường Tân Định, Thành phố Hồ Chí Minh
Hotline0914491911
Emailinfo@dlpinnacle.vn
Websitehttps://www.dlpinnacle.vn