Thuê Người Làm Giả Giấy Tờ Rồi Sử Dụng: Trách Nhiệm Pháp Lý Và Hướng Dẫn Định Tội Theo TANDTC
Phân tích quy định xử phạt vi phạm hành chính và căn cứ định tội danh theo Điều 341 BLHS cùng hướng dẫn tại Công văn số 250/TANDTC-PC đối với hành vi thuê làm giả rồi sử dụng giấy tờ.
Mục lục
1. Thế nào được coi là tài liệu, giấy tờ giả?
2. Nhận diện tài liệu, giấy tờ giả như thế nào?
3.1. Xử phạt vi phạm hành chính:
Tài liệu, giấy tờ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành không chỉ là phương tiện ghi nhận và chứng minh các sự kiện, tình trạng pháp lý mà còn là cơ sở để các chủ thể thực hiện quyền, nghĩa vụ và tiến hành các giao dịch trong đời sống xã hội. Vì vậy, việc bảo đảm tính xác thực của các loại tài liệu, giấy tờ là một trong những yêu cầu cần thiết nhằm duy trì trật tự quản lý hành chính và bảo đảm an toàn pháp lý trong xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại tình trạng làm giả tài liệu, giấy tờ và sử dụng tài liệu, giấy tờ giả để thực hiện hành vi trái pháp luật.
Trong thực tiễn, hành vi làm giả tài liệu, giấy tờ có thể được thực hiện thông qua nhiều cách thức khác nhau. Chủ thể có nhu cầu sử dụng tài liệu, giấy tờ giả trong một số trường hợp không trực tiếp thực hiện hành vi làm giả mà thuê hoặc nhờ người khác thực hiện, sau đó nhận và sử dụng tài liệu, giấy tờ giả. Cách thức này đặt ra nhiều vấn đề pháp lý cần được xem xét có liên quan đến việc xác định bản chất của hành vi cũng như xác định trách nhiệm pháp lý của chủ thể thuê người khác làm giả rồi sử dụng và mối quan hệ giữa hành vi làm giả tài liệu, giấy tờ với hành vi sử dụng tài liệu, giấy tờ giả.
1. Thế nào được coi là tài liệu, giấy tờ giả?
Pháp luật hiện hành không có định nghĩa cụ thể về khái niệm của tài liệu, giấy tờ giả. Tuy nhiên, có thể hiểu tài liệu, giấy tờ giả là những tài liệu, giấy tờ được tạo ra một cách trái phép nhằm giả mạo tài liệu, giấy tờ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành hoặc xác nhận. Để xác định một tài liệu, giấy tờ có phải là giả hay không, trước hết cần xem xét nguồn gốc và tính hợp pháp của tài liệu, giấy tờ. Tài liệu, giấy tờ được xác định là giả khi không được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành hoặc xác nhận nhưng lại được tạo lập nhằm thể hiện như tài liệu, giấy tờ đó do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành, cấp hoặc xác nhận.
Các loại tài liệu, giấy tờ thường được làm giả có thể kể đến như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Hộ chiếu, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh, căn cước công dân, giấy chứng nhận kết hôn, giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe; Bằng tốt nghiệp, chứng chỉ, bảng điểm; Hợp đồng vay vốn, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ; Giấy khám sức khỏe,...
2. Nhận diện tài liệu, giấy tờ giả như thế nào?
Việc nhận diện tài liệu, giấy tờ giả thường căn cứ vào các đặc điểm của phôi giấy, chữ ký, đóng dấu, nội dung thể hiện, cơ quan có thẩm quyền ban hành và các tài liệu, chứng cứ khác. Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết phải tiến hành giám định vì tài liệu, giấy tờ giả có thể được tạo ra với hình thức, nội dung hoàn toàn giống tài liệu, giấy tờ thật nên việc chỉ quan sát và kiểm tra bằng mắt thường rất khó để xác định, do đó, chỉ có thể xác định chính xác nhất thông qua kĩ thuật giám định của cơ quan chuyên môn.
3. Thuê người làm giả tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức rồi đem sử dụng thì bị xử lý như thế nào?
Hành vi làm giả tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng tài liệu, giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức làm suy giảm tính minh bạch, xác thực của các hoạt động, giao dịch trong đời sống cũng như làm mất niềm tin, sự công bằng trong xã hội, bên cạnh đó còn góp phần làm gia tăng nguy cơ phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật khác. Hậu quả không chỉ giới hạn ở thiệt hại trực tiếp đối với một cá nhân hay tổ chức mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự quản lý hành chính và an ninh xã hội.
Do đó, hành vi thuê người làm giả tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức rồi sử dụng tài liệu, giấy tờ giả đó được xem là hành vi vi phạm pháp luật. Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà chủ thể thuê người làm giả tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức rồi đem sử dụng có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể:
3.1. Xử phạt vi phạm hành chính:
Hành vi thuê người làm giả tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức rồi sử dụng tài liệu, giấy tờ giả nếu chưa thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm hình sự thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sử dụng tài liệu, giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức, cụ thể như sau:
Cá nhân có hành vi sử dụng thẻ căn cước công dân giả, thẻ căn cước giả, căn cước điện tử giả, giấy chứng nhận căn cước giả, giấy xác nhận số định danh cá nhân đã hủy với số định danh cá nhân đã xác lập lại giả thì bị phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Đối với chủ thể là tổ chức có hành vi vi phạm nêu trên, mức phạt tiền là gấp 02 lần mức phạt tiền so với chủ thể là cá nhân, tức tổ chức sẽ bị phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
CSPL: Khoản 2 Điều 5, điểm a khoản 4 Điều 11 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025.
3.2. Truy cứu trách nhiệm hình sự:
Trong thực tế, không ít người cho rằng bỏ tiền thuê người khác làm giả tài liệu, giấy tờ thì bản thân cũng là đồng phạm trong đường dây làm giả tài liệu, giấy tờ nên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, dưới góc nhìn pháp lý, việc xác định tội danh không chỉ căn cứ vào mục đích của chủ thể thực hiện mà còn phụ thuộc vào bản chất của hành vi cụ thể và vai trò của từng chủ thể trong vụ án.
Theo hướng dẫn tại Tiểu mục 8 Mục I Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân tối cao thì có thể hiểu trường hợp chủ thể không trực tiếp làm giả tài liệu, giấy tờ mà chỉ nhờ hoặc thuê người khác thực hiện việc làm giả, sau đó sử dụng tài liệu, giấy tờ giả đó để thực hiện hành vi trái pháp luật thì chủ thể này bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (nếu đủ các yếu tố cấu thành tội phạm) mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Qua đó, pháp luật đã có sự tách bạch và phân biệt rõ về trách nhiệm pháp lý giữa chủ thể trực tiếp tạo ra tài liệu giả và chủ thể chỉ sử dụng tài liệu giả, tránh việc đồng nhất mọi hành vi liên quan đến tài liệu, giấy tờ giả thành cùng một tội danh.
Như vậy, chủ thể có hành vi thuê người khác làm giả tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức rồi sử dụng tài liệu, giấy tờ giả đó nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Mức hình phạt đối với tội danh này có thể là phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù với mức tù cao nhất có thể lên đến 07 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
4. Vừa trực tiếp làm giả tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức, vừa sử dụng tài liệu, giấy tờ giả đó thì bị xử lý như thế nào?
Cũng theo hướng dẫn tại Tiểu mục 8 Mục I Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân tối cao, nếu chủ thể vừa trực tiếp làm giả tài liệu, giấy tờ, vừa sử dụng chính tài liệu, giấy tờ giả đó để thực hiện hành vi trái pháp luật thì chủ thể đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả 02 tội danh là Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Mặc dù cả 02 tội danh nêu trên cùng được quy định trong 01 điều luật nhưng xét về bản chất pháp lý thì 02 tội danh nêu trên là 02 tội danh độc lập, do đó, chủ thể có hành vi vi phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả 02 tội danh và phải chịu hình phạt tương ứng đối với mỗi tội danh riêng biệt, sau đó từ hình phạt của mỗi tội danh mới được tổng hợp lại thành hình phạt cuối cùng mà người phạm tội phải chấp hành, chứ không áp dụng 01 hình phạt chung cho cả 02 hành vi phạm tội.
Việc nhận thức đúng bản chất pháp lý của hành vi thuê người làm giả tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức và sử dụng tài liệu, giấy tờ giả không chỉ có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của chủ thể có hành vi vi phạm mà còn góp phần nâng cao ý thức pháp luật, góp phần phòng ngừa, hạn chế hành vi vi phạm và bảo đảm hiệu quả trong cơ chế quản lý nhà nước. Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, cần tiếp tục chú trọng việc giải thích, áp dụng thống nhất các quy định pháp luật có liên quan, đồng thời đánh giá, phân tích cụ thể vai trò, lỗi và mức độ của hành vi vi phạm để bảo đảm nguyên tắc xét xử đúng người, đúng tội.
| Thông tin | Liên hệ |
|---|---|
| Địa chỉ | Tầng 5, 25 Nguyễn Văn Nguyễn, phường Tân Định, Thành phố Hồ Chí Minh |
| Hotline | 0914491911 |
| info@dlpinnacle.vn | |
| Website | https://www.dlpinnacle.vn |