DL PINNACLE – ĐIỂM TỰA PHÁP LÝ, VỊ THẾ TIÊN PHONG
CALL zalo facebook scroll to tOP

TỘI “TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY” VÀ RANH GIỚI TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI HÀNH VI “SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY”

Tóm tắt: Bài viết phân tích tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” dưới góc độ cấu thành tội phạm, ranh giới giữa hành vi tự sử dụng, cùng sử dụng, chứa chấp, lôi kéo và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Trên cơ sở Điều 255 và Điều 256a Bộ luật Hình sự sau khi được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 86/2025/QH15, bài viết đặt lại câu hỏi trung tâm: “sử dụng trái phép chất ma túy” như thế nào mới làm phát sinh trách nhiệm hình sự? Bài viết đồng thời đối chiếu kinh nghiệm lập pháp của Trung Quốc và Hàn Quốc để kiến nghị tiêu chí định tội nhằm tránh hai khuynh hướng: bỏ lọt người tổ chức và hình sự hóa máy móc người sử dụng. Từ khóa: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; sử dụng trái phép chất ma túy; Điều 255; Điều 256a; Công văn 89/TANDTC-PC; tội phạm ma túy; luật hình sự so sánh.

TỘI “TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY” VÀ RANH GIỚI TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI HÀNH VI “SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY”

1. Đặt vấn đề

Trong các tội phạm về ma túy, tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là tội danh có biên độ áp dụng rộng nhưng lại dễ phát sinh tranh luận nhất trong thực tiễn định tội. Người phạm tội không nhất thiết là người bán ma túy, không nhất thiết là người trực tiếp đưa ma túy vào cơ thể người khác, cũng không nhất thiết là người hưởng lợi bằng tiền. Trọng tâm của tội danh nằm ở việc người đó đã tạo lập, sắp đặt, điều phối hoặc cung cấp điều kiện để người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

Từ khi Điều 256a về tội “sử dụng trái phép chất ma túy” được bổ sung, vấn đề càng cần được phân định chính xác hơn. Nếu trước đây hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thường được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ quản lý hành chính, cai nghiện và xử lý vi phạm hành chính, thì kể từ ngày 01/7/2025, hành vi này có thể bị hình sự hóa trong những trường hợp luật định. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa mọi trường hợp dương tính với chất ma túy đều đương nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Câu hỏi khoa học của bài viết là: “sử dụng trái phép chất ma túy” như thế nào mới chịu trách nhiệm hình sự? Câu trả lời không thể chỉ dựa vào kết quả xét nghiệm dương tính, mà phải đặt trong quan hệ giữa hành vi sử dụng cá nhân, hành vi cùng sử dụng, hành vi chứa chấp, lôi kéo và hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

2. Quy định pháp luật Việt Nam:

Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi khoản 1 bởi Luật số 86/2025/QH15, hiện cần được hiểu với nội dung cơ bản như sau:

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

d) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

đ) Đối với người đang cai nghiện;

e) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

d) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

b) Làm chết 02 người trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 256a được bổ sung vào sau Điều 256 Bộ luật Hình sự, quy định trực tiếp về tội “sử dụng trái phép chất ma túy”:

Điều 256a. Tội sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;

b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;

c) Đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;

d) Đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.

2. Tái phạm về tội này thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.

Từ hai điều luật trên, có thể thấy chính sách hình sự hiện hành thiết lập hai tầng trách nhiệm. Tầng thứ nhất là trách nhiệm đối với người tự sử dụng trái phép chất ma túy trong các trường hợp đặc biệt tại Điều 256a. Tầng thứ hai là trách nhiệm đối với người tổ chức, tạo điều kiện, điều phối hoặc cung cấp điều kiện để người khác sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 255. Hai tầng này không được đồng nhất.

3. Khái niệm “sử dụng trái phép chất ma túy” và giới hạn hình sự hóa

Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 xác định người sử dụng trái phép chất ma túy là người có hành vi sử dụng chất ma túy mà không được người hoặc cơ quan chuyên môn có thẩm quyền cho phép và có kết quả xét nghiệm dương tính với chất ma túy trong cơ thể. Khái niệm này có ý nghĩa nhận diện tình trạng pháp lý - quản lý, nhưng chưa phải lúc nào cũng là căn cứ đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo Điều 256a, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chỉ trở thành tội phạm khi người sử dụng thuộc một trong các trạng thái pháp lý đặc biệt: đang cai nghiện hoặc điều trị thay thế; đang quản lý sau cai; đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai và đang bị quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; hoặc đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện tự nguyện/điều trị thay thế. Như vậy, kết quả dương tính là điều kiện thực tế để nhận diện hành vi, nhưng điều kiện pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự còn phụ thuộc vào tình trạng quản lý, cai nghiện hoặc tái phạm theo luật định.

Điểm cần nhấn mạnh là: “tự sử dụng” không đồng nghĩa với “tổ chức sử dụng”. Nếu một người chỉ đưa chất ma túy vào cơ thể mình, không tạo điều kiện cho người khác sử dụng, không cung cấp địa điểm, ma túy, dụng cụ, người sử dụng, phương tiện hoặc sự điều hành, thì không thể chỉ vì người này có mặt trong một nhóm sử dụng mà mặc nhiên quy kết họ là người tổ chức.

4. Cấu thành tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

4.1. Khách thể và đối tượng tác động

Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, đồng thời xâm hại trật tự, an toàn xã hội và sức khỏe cộng đồng. Khác với tội sử dụng trái phép chất ma túy, Điều 255 không chỉ xử lý trạng thái người sử dụng mà xử lý hành vi làm cho việc sử dụng ma túy của người khác được tổ chức, được chuẩn bị hoặc được bảo đảm thực hiện.

4.2. Mặt khách quan

Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 giải đáp theo hướng: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không đồng nhất với “phạm tội có tổ chức”; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là thực hiện một trong các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cung cấp ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ... để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Theo hướng dẫn được viện dẫn trong thực tiễn, người thực hiện theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác cũng có thể là đồng phạm của tội này nếu có hành vi: đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; cung cấp trái phép chất ma túy cho người khác sử dụng; chuẩn bị chất ma túy; chuẩn bị địa điểm; chuẩn bị dụng cụ, phương tiện; hoặc tìm người sử dụng chất ma túy.

4.3. Mặt chủ quan

Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được thực hiện với lỗi cố ý. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là người phạm tội biết có ma túy và biết có người sử dụng, mà còn phải chứng minh ý chí hướng tới việc làm cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Đây là điểm quyết định để phân biệt giữa người thụ hưởng, người cùng sử dụng, người giúp sức không đáng kể, người chứa chấp và người tổ chức.

Một số quan điểm thực tiễn nhấn mạnh rằng nếu không chứng minh được mục đích, ý chí hoặc sự chấp nhận có chủ đích của người bị buộc tội trong việc đưa chất

5. Các công văn, giải đáp nghiệp vụ liên quan và giá trị tham khảo

Văn bảnNội dung liên quanÝ nghĩa đối với Điều 255
Công văn 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của TANDTCThông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử.Xác định “tổ chức sử dụng” không đồng nhất với “phạm tội có tổ chức”; nhận diện bằng các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành, cung cấp ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ để người khác sử dụng.
Công văn 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của TANDTCGiải đáp một số vướng mắc trong xét xử.Nêu ví dụ A mua ma túy, đưa ra cho B, C, D cùng sử dụng; hành vi cung cấp ma túy cho người khác sử dụng được xem là một dạng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Công văn 5442/VKSTC-V14 ngày 30/11/2020 của VKSNDTCGiải đáp khó khăn, vướng mắc về BLHS, BLTTHS và thi hành án hình sự.Khẳng định chủ thể của Điều 255 không loại trừ người nghiện ma túy nếu người này có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Công văn 1797/VKSTC-V14 ngày 25/5/2022 của VKSNDTCĐược dẫn trong các bài bình luận thực tiễn về tình tiết “đối với 02 người trở lên”.Được sử dụng như nguồn tham khảo khi xác định số người thụ hưởng trong tình tiết định khung tăng nặng của Điều 255.
Công văn 20/VKSTC-V4 ngày 04/01/2023 của VKSNDTCĐược dẫn trong bình luận của Tạp chí Tòa án về Điều 255.Liên quan đến việc áp dụng tình tiết “phạm tội đối với 02 người trở lên” trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Các công văn nêu trên không phải là văn bản quy phạm pháp luật theo nghĩa chặt chẽ, nhưng có giá trị định hướng nghiệp vụ và phản ánh đường lối áp dụng pháp luật của cơ quan tư pháp trung ương. Vì vậy, khi sử dụng trong hoạt động tranh tụng hoặc nghiên cứu, cần phân biệt giữa giá trị bắt buộc của điều luật và giá trị tham khảo/giải thích của công văn.

6. Ranh giới giữa “cùng sử dụng”, “chứa chấp”, “lôi kéo” và “tổ chức sử dụng”

6.1. Cùng sử dụng trái phép chất ma túy

Trường hợp nhiều người cùng góp tiền, cùng mua ma túy, cùng sử dụng trong cùng một không gian không đương nhiên cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với tất cả mọi người. Cần xem xét vai trò thực tế: ai là người khởi xướng, ai mua ma túy, ai chuẩn bị địa điểm, ai chuẩn bị dụng cụ, ai điều hành hoặc phân chia, ai rủ thêm người khác, ai là người chỉ thụ hưởng.

Ví dụ: A, B, C cùng thống nhất góp tiền để mua ma túy và cùng sử dụng. A chỉ chuyển tiền cho B, không biết B mua ở đâu, không chuẩn bị dụng cụ, không rủ thêm người, không phân chia ma túy. Trong trường hợp này, nếu không có chứng cứ chứng minh vai trò tạo điều kiện cho người khác sử dụng, việc xử lý A như đồng phạm tổ chức sử dụng cần được cân nhắc thận trọng.

6.2. Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256 có điểm giao thoa với Điều 255 ở yếu tố địa điểm. Công văn 02/TANDTC-PC năm 2021 nhấn mạnh quy định tại Điều 256 không loại trừ xử lý người nghiện ma túy có hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu đủ yếu tố cấu thành và không thuộc Điều 255. Do đó, khi người có địa điểm chỉ cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ hoặc biết và để mặc người khác sử dụng, nhưng không điều hành, chuẩn bị ma túy, dụng cụ hoặc tổ chức người sử dụng, việc định tội cần nghiêng về Điều 256 thay vì Điều 255.

6.3. Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy

Hành vi rủ rê, dụ dỗ, khêu gợi ham muốn sử dụng ma túy có thể thuộc tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy nếu thỏa mãn Điều 258. Công văn 89/TANDTC-PC cũng phân biệt trường hợp dụ dỗ, khêu gợi người khác sử dụng ma túy với trường hợp các con nghiện cùng góp tiền, cùng sử dụng. Vì vậy, lời rủ rê đơn thuần không phải lúc nào cũng là tổ chức; ngược lại, việc chuẩn bị điều kiện vật chất và điều phối việc sử dụng có thể vượt khỏi phạm vi lôi kéo để trở thành tổ chức.

6.4. Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi có tính “kiến tạo điều kiện” cho việc người khác sử dụng. Dấu hiệu quan trọng không phải là có bao nhiêu người cùng dùng, mà là người bị buộc tội có vai trò chủ động làm cho việc sử dụng của người khác xảy ra, diễn ra thuận lợi hoặc được duy trì hay không.

7. So sánh pháp luật Trung Quốc và Hàn Quốc

7.1. Trung Quốc: tách bạch người sử dụng và người làm cho người khác sử dụng

Bộ luật Hình sự Trung Quốc xử lý trực tiếp các hành vi tác động tới việc người khác sử dụng ma túy. Điều 353 quy định người nào dụ dỗ, xúi giục hoặc lừa gạt người khác sử dụng hoặc tiêm chích ma túy thì bị xử phạt hình sự; trường hợp cưỡng bức người khác sử dụng hoặc tiêm chích ma túy thì mức hình phạt cao hơn; nếu đối với người chưa thành niên thì bị xử phạt nặng hơn. Điều 354 quy định người cung cấp nơi chốn cho người khác sử dụng hoặc tiêm chích ma túy cũng bị xử lý hình sự. Điều 355 xử lý trường hợp người có tư cách quản lý, sử dụng hợp pháp chất ma túy hoặc chất hướng thần do Nhà nước kiểm soát nhưng cung cấp trái quy định cho người sử dụng ma túy.

Kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy trọng tâm hình sự không chỉ đặt vào người dùng, mà đặt rất rõ vào hành vi làm cho người khác dùng: dụ dỗ, lừa gạt, cưỡng bức, cung cấp nơi chốn, cung cấp chất gây nghiện được kiểm soát. Cấu trúc này có điểm tương đồng với Điều 255, Điều 256, Điều 257 và Điều 258 của Việt Nam.

7.2. Hàn Quốc: mô hình kiểm soát rộng đối với hành vi “handling” ma túy

Pháp luật Hàn Quốc có xu hướng kiểm soát nghiêm khắc và rộng hơn. Luật Kiểm soát ma túy của Hàn Quốc đặt mục tiêu bảo vệ sức khỏe cộng đồng và trật tự xã hội bằng cách kiểm soát narcotic drugs, psychotropic substances, marijuana và tiền chất. Luật cấm người không có tư cách xử lý ma túy thực hiện các hành vi như sở hữu, sử dụng, quản lý, vận chuyển, nhập khẩu, xuất khẩu, sản xuất, mua bán, giao nhận hoặc cung cấp, trừ trường hợp được pháp luật cho phép hoặc theo chỉ định y tế hợp pháp.

So với Việt Nam, Hàn Quốc hình sự hóa rộng hơn đối với bản thân hành vi sử dụng, sở hữu và xử lý trái phép. Trong khi đó, Việt Nam sau Luật số 86/2025/QH15 chọn mô hình trung gian: không xử lý hình sự mọi trường hợp sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng xử lý hình sự người sử dụng trong nhóm nguy cơ đặc biệt theo Điều 256a; đồng thời xử lý nghiêm người tổ chức, chứa chấp, cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng.

8. Trả lời câu hỏi trung tâm: “sử dụng trái phép chất ma túy” như thế nào mới chịu trách nhiệm hình sự?

Có thể trả lời theo ba cấp độ sau:

1. Cấp độ thứ nhất - sử dụng với tư cách hành vi quản lý hành chính: Một người có hành vi sử dụng chất ma túy trái phép và có kết quả xét nghiệm dương tính thì được nhận diện là người sử dụng trái phép chất ma túy theo Luật Phòng, chống ma túy. Tuy nhiên, nếu chưa thuộc các trường hợp của Điều 256a và không thực hiện hành vi khác về ma túy, việc xử lý chủ yếu nằm ở cơ chế quản lý, cai nghiện hoặc xử phạt hành chính.

2. Cấp độ thứ hai - sử dụng cấu thành tội độc lập theo Điều 256a: Người sử dụng trái phép chất ma túy bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đang trong thời hạn cai nghiện/điều trị thay thế, đang quản lý sau cai, đang trong thời hạn 02 năm theo quy định sau quản lý sau cai hoặc sau khi tự ý chấm dứt cai nghiện/điều trị thay thế. Đây là trường hợp “sử dụng” trở thành tội phạm độc lập.

3. Cấp độ thứ ba - sử dụng gắn với hành vi tổ chức cho người khác sử dụng: Nếu người sử dụng đồng thời chuẩn bị ma túy, địa điểm, dụng cụ, gọi người, rủ thêm người, phân chia, hướng dẫn, điều hành, thu tiền hoặc tạo điều kiện vật chất - tinh thần để người khác sử dụng, thì trách nhiệm hình sự có thể phát sinh theo Điều 255 hoặc các tội liên quan. Khi đó, người này bị xử lý không phải chỉ vì “đã sử dụng”, mà vì đã làm cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

Từ đó, tiêu chí thực hành có thể khái quát như sau: “sử dụng” là hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể mình; “tổ chức sử dụng” là hành vi tạo điều kiện, chuẩn bị, điều phối hoặc bảo đảm cho việc đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác. Chỉ khi vượt qua ranh giới hành vi cá nhân và chuyển sang vai trò đối với việc sử dụng của người khác, trách nhiệm theo Điều 255 mới được đặt ra.

9. Bộ tiêu chí gợi ý khi định tội Điều 255

Tiêu chíNội dung đánh giá
Tiêu chí 1: Có người thụ hưởng hay không?Phải xác định cụ thể ai là người được tổ chức cho sử dụng ma túy. Nếu không xác định được người thụ hưởng ngoài chính người bị buộc tội, việc áp dụng Điều 255 cần đặc biệt thận trọng.
Tiêu chí 2: Có hành vi chuẩn bị, điều phối hoặc cung cấp điều kiện không?Cần chứng minh hành vi chuẩn bị ma túy, địa điểm, dụng cụ, phương tiện, người sử dụng, hoặc hành vi điều hành, phân công, cảnh giới, thu xếp nhằm phục vụ việc người khác sử dụng.
Tiêu chí 3: Có ý chí hướng tới việc người khác sử dụng không?Cần phân biệt ý chí cùng sử dụng cho bản thân với ý chí tạo điều kiện cho người khác sử dụng. Đây là điểm lõi của mặt chủ quan.
Tiêu chí 4: Vai trò có vượt quá mức cùng sử dụng không?Người chỉ góp tiền, có mặt, cùng dùng, không chuẩn bị hoặc điều phối cho người khác sử dụng thì chưa đủ căn cứ mặc nhiên là người tổ chức.
Tiêu chí 5: Có quan hệ với các tội chứa chấp, lôi kéo, cưỡng bức không?Nếu hành vi chủ yếu là cho mượn địa điểm thì xem xét Điều 256; nếu chủ yếu là rủ rê, dụ dỗ thì xem xét Điều 258; nếu cưỡng bức thì xem xét Điều 257; nếu có cấu trúc tổ chức điều kiện sử dụng thì xem xét Điều 255.

10. Kiến nghị hoàn thiện và thống nhất áp dụng

Thứ nhất, cần có nghị quyết hoặc hướng dẫn thống nhất của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về dấu hiệu “tổ chức” trong Điều 255 sau khi Điều 256a được bổ sung. Hướng dẫn này cần phân biệt rõ người tổ chức, đồng phạm giúp sức, người thụ hưởng, người chỉ cùng sử dụng và người chứa chấp.

Thứ hai, cần thống nhất cách xử lý trường hợp “người nghiện cho người nghiện khác cùng sử dụng”. Các công văn sau này có xu hướng không loại trừ người nghiện khỏi chủ thể của Điều 255. Tuy nhiên, để tránh hình sự hóa máy móc, tiêu chí quyết định vẫn phải là vai trò tổ chức đối với việc người khác sử dụng, chứ không phải tình trạng nghiện hay không nghiện.

Thứ ba, trong hồ sơ vụ án cần chuẩn hóa nhóm chứng cứ bắt buộc: nguồn ma túy; người chuẩn bị; người chuẩn bị địa điểm; dụng cụ sử dụng; lời khai về việc rủ rê, phân chia, điều hành; dữ liệu camera, tin nhắn, chuyển tiền; kết quả xét nghiệm; biên bản thu giữ vật chứng; và chứng cứ về tình trạng pháp lý của người sử dụng nếu xem xét Điều 256a.

Thứ tư, cần thận trọng với tình tiết “đối với 02 người trở lên”. Về mặt lập luận, nên xác định số người thụ hưởng việc tổ chức sử dụng, không tự động tính mọi đồng phạm là “người bị tổ chức cho sử dụng” nếu họ đồng thời là người tổ chức hoặc người giúp sức. Cách hiểu này giúp bảo đảm phân hóa trách nhiệm hình sự đúng vai trò.

11. Kết luận

Tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là tội danh cần thiết để xử lý những hành vi làm lan rộng, duy trì hoặc thương mại hóa việc sử dụng ma túy. Tuy nhiên, tính cần thiết của tội danh không cho phép mở rộng trách nhiệm hình sự một cách cơ học đối với mọi người cùng có mặt hoặc cùng sử dụng ma túy.

Sau khi Điều 256a được bổ sung, câu hỏi “sử dụng trái phép chất ma túy như thế nào mới chịu trách nhiệm hình sự?” phải được trả lời rõ: người tự sử dụng chỉ bị xử lý hình sự khi thuộc trường hợp luật định tại Điều 256a; còn người sử dụng nhưng đồng thời tổ chức, chuẩn bị, điều phối hoặc cung cấp điều kiện cho người khác sử dụng thì bị xem xét theo Điều 255 hoặc các tội danh liên quan. Giới hạn này vừa bảo đảm nghiêm trị người tổ chức, lôi kéo, chứa chấp, vừa tránh hình sự hóa tùy tiện người sử dụng ma túy khi chưa đủ điều kiện luật định.

Chú thích và tài liệu tham khảo

(1) Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2025, có hiệu lực từ 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025; xem khoản 19 và khoản 20 Điều 1 về Điều 255 và Điều 256a.

(2) Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, Điều 2 khoản 10: người sử dụng trái phép chất ma túy là người có hành vi sử dụng chất ma túy mà không được người hoặc cơ quan chuyên môn có thẩm quyền cho phép và có kết quả xét nghiệm dương tính với chất ma túy trong cơ thể.

(3) Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử.

(4) Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải đáp một số vướng mắc trong xét xử.

(5) Công văn số 5442/VKSTC-V14 ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải đáp một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy định của BLHS, BLTTHS năm 2015 và thi hành án hình sự.

(6) Criminal Law of the People’s Republic of China, Articles 353, 354 and 355; bản tiếng Anh công bố trên trang Supreme People’s Procuratorate of the PRC và các nguồn pháp luật Trung Quốc bằng tiếng Anh.

(7) Narcotics Control Act of the Republic of Korea, Articles 3, 4, 5 và các điều khoản xử phạt liên quan; bản tiếng Anh trên Korean Law Information Center/Korea Legislation Research Institute.

  • Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
  • Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự.
  • Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.
  • Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của TANDTC về thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử.
  • Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của TANDTC về giải đáp một số vướng mắc trong xét xử.
  • Công văn số 5442/VKSTC-V14 ngày 30/11/2020 của VKSNDTC về giải đáp khó khăn, vướng mắc liên quan đến BLHS, BLTTHS và thi hành án hình sự.
  • Criminal Law of the People’s Republic of China, Articles 353, 354, 355.
  • Narcotics Control Act of the Republic of Korea.

CÔNG TY LUẬT TNHH DL PINNACLE

Thông tinLiên hệ
Địa chỉTầng 3, 18A/76 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh
Hotline0914491911
Emailinfo@dlpinnacle.vn
Websitehttps://www.dlpinnacle.vn