DL PINNACLE – ĐIỂM TỰA PHÁP LÝ, VỊ THẾ TIÊN PHONG
CALL zalo facebook scroll to tOP

NHỮNG CHÍNH SÁCH MỚI NỔI BẬT CÓ HIỆU LỰC TỪ NGÀY 01/7/2026

Việc ban hành và sửa đổi các chính sách, quy định pháp luật giữ vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Nhà nước, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ở từng giai đoạn. Sự thay đổi của phương diện quản lý nhà nước, cùng với những yêu cầu mới đặt ra từ thực tiễn, đòi hỏi hệ thống pháp luật phải thường xuyên được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch và khả thi trong quá trình áp dụng.

NHỮNG CHÍNH SÁCH MỚI NỔI BẬT  CÓ HIỆU LỰC TỪ NGÀY 01/7/2026

Ngày 01/7/2026 là thời điểm nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng chính thức có hiệu lực thi hành, đánh dấu bước chuyển đáng chú ý trong quá trình cải cách thể chế và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Các chính sách mới được ban hành trên nhiều lĩnh vực, việc triển khai các chính sách mới không chỉ tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước mà còn tác động trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong xã hội.

1. Tăng mức lương cơ sở:

Từ ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở tăng từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng.

Có thể hiểu, mức lương cơ sở là mức tiền do Nhà nước quy định, được sử dụng làm căn cứ để xác định nhiều chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và một số đối tượng khác, cụ thể:

    - Tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng:

    • Cán bộ, công chức từ trung ương đến cấp xã quy định tại Điều 1 Luật Cán bộ, công chức;
    • Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Điều 1 Luật Viên chức;
    • Người làm các công việc theo chế độ hợp đồng lao động trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Nghị định của Chính phủ thuộc trường hợp được áp dụng hoặc có thỏa thuận trong hợp đồng lao động áp dụng xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang;
    • Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế tại các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động theo quy định tại Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội;
    • Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, công chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam;
    • Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân;
    • Người làm việc trong tổ chức cơ yếu;
    • Hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; hạ sĩ quan và chiến sĩ nghĩa vụ thuộc Công an nhân dân;
    • Người hoạt động không chuyên trách ở thôn và tổ dân phố.

    - Tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật;

    - Tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở.

    Việc điều chỉnh tăng mức lương cơ sở sẽ kéo theo mức lương của các nhóm đối tượng được áp dụng lương cơ sở tăng tương ứng theo hệ số lương hiện hưởng.

    CSPL: Điều 2, điều 3 Nghị định số 161/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026.

    2. Tăng mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng:

    Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 162/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 và Điều 3 Thông tư số 14/2026/TT-BNV ngày 29/5/2026 thì từ ngày 01/7/2026, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng được điều chỉnh tăng thêm 8% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2026.

    Bên cạnh đó, đối với một số trường hợp sau khi đã điều chỉnh tăng thêm 8% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2026 nhưng vẫn có mức hưởng thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng thì sẽ tiếp tục được điều chỉnh như sau:

    • Tăng thêm 300.000 đồng/người/tháng đối với những người có mức hưởng bằng hoặc thấp hơn 3.500.000 đồng/người/tháng;
    • Tăng lên bằng 3.800.000 đồng/người/tháng đối với những người có mức hưởng cao hơn 3.500.000 đồng/người/tháng nhưng thấp hơn 3.800.000 đồng/người/tháng.

    3. Nhiều ngành nghề kinh doanh có điều kiện bị bãi bỏ:

    Được biết, số lượng ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định tại Phụ lục IV của Luật Đầu tư năm 2025 là 198 ngành nghề. Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 66.17/2026/NQ-CP ngày 15/5/2026, từ 01/7/2026, số lượng ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện sẽ giảm xuống còn 142 ngành nghề. Trong đó, cắt giảm những ngành, nghề không thật sự cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng. Đồng thời, cắt giảm những ngành, nghề mà điều kiện đầu tư kinh doanh có thể nghiên cứu quản lý thông qua tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn nghề để quản lý theo phương thức hậu kiểm. 56 (năm mươi sáu) ngành nghề kinh doanh có điều kiện bị bãi bỏ gồm:

    Trình duyệt của bạn không hỗ trợ xem PDF trực tiếp.

    Bạn có thể bấm vào đây để tải file về máy.

    4. Trách nhiệm của người bán trên nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử:

    So với quy định trước đây, Luật Thương mại điện tử năm 2025 đã chú trọng nâng cao trách nhiệm cung cấp, công khai thông tin của người bán lên thành quy định của luật. Việc luật hóa nghĩa vụ này góp phần tăng tính minh bạch, giúp người tiêu dùng có đầy đủ thông tin trước khi quyết định mua hàng, hạn chế tình trạng quảng cáo sai sự thật và gia tăng niềm tin của người tiêu dùng khi mua sắm trực tuyến.

    Cụ thể, từ ngày 01/7/2026, trách nhiệm của người bán trên nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử được quy định như sau:

      - Người bán trên nền tảng thương mại điện tử trung gian không có chức năng đặt hàng trực tuyến, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử không có chức năng đặt hàng trực tuyến thực hiện các trách nhiệm:

      • Cung cấp thông tin cho chủ quản nền tảng thương mại điện tử để phục vụ xác thực danh tính người bán;
      • Cung cấp cho chủ quản nền tảng thương mại điện tử thông tin về tên, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh theo nội dung đăng ký đã thực hiện với cơ quan đăng ký kinh doanh; tên, địa chỉ nơi đặt trụ sở của tổ chức; tên, địa chỉ cư trú của cá nhân;
      • Công khai thông tin về dịch vụ theo quy định của pháp luật có liên quan; thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên nền tảng thương mại điện tử theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; thông tin bắt buộc thể hiện trên nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa, trừ thông tin có tính chất riêng biệt được thể hiện trên nhãn hàng hóa về ngày, tháng, năm sản xuất, thời hạn sử dụng, số lô sản xuất, số khung, số máy;
      • Cung cấp thông tin về hoạt động thương mại điện tử khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

      - Ngoài các trách nhiệm nêu trên, trường hợp người bán trên nền tảng thương mại điện tử trung gian có chức năng đặt hàng trực tuyến, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến thì còn phải thực hiện thêm các trách nhiệm sau:

      • Chỉ sử dụng tài khoản thanh toán của mình trên nền tảng thương mại điện tử;
      • Cung cấp cho chủ quản nền tảng thương mại điện tử đầy đủ giấy tờ chứng minh đáp ứng điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trước khi thực hiện hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên nền tảng;
      • Trường hợp phát hiện hàng hóa có khuyết tật theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, người bán phải cung cấp thông tin về hàng hóa có khuyết tật cho chủ quản nền tảng thương mại điện tử để công khai thông tin trên nền tảng, thực hiện thu hồi, xử lý hàng hóa có khuyết tật và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và quy định khác của pháp luật có liên quan.

      CSPL: Điều 21 Luật Thương mại điện tử năm 2025

    5. Nghĩa vụ chứng minh khi sử dụng các từ “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” trong hoạt động quảng cáo:

    Căn cứ theo quy định tại khoản 11 Điều 8 Luật Quảng cáo năm 2012 thì hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo là hành vi quảng cáo có sử dụng các từ ngữ “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” hoặc từ ngữ có ý nghĩa tương tự mà không có tài liệu hợp pháp chứng minh theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

    Do đó, việc chứng minh nội dung quảng cáo khi sử dụng các từ ngữ nêu trên là nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân. Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư số 12/2026/TT-BVHTTDL ngày 22/5/2026 thì để thực hiện nghĩa vụ chứng minh, các tổ chức, cá nhân phải có một trong các loại tài liệu hợp pháp sau đây:

    • Kết quả khảo sát thị trường của tổ chức được thành lập và hoạt động hợp pháp, có chức năng nghiên cứu thị trường;
    • Giấy chứng nhận do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp tại các cuộc thi, triển lãm, giải thưởng quy mô toàn quốc, khu vực hoặc quốc tế bình chọn, xếp hạng, đánh giá và công nhận các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đó là “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” hoặc các từ ngữ ý nghĩa tương tự.

    6. Bổ sung quy định về chế độ nghỉ thai sản:

    Nhằm duy trì mức sinh thay thế (mức sinh tính bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sinh 2,1 con), việc bổ sung quy định về chế độ nghỉ thai sản theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có thêm thời gian chuẩn bị, chăm sóc, nghỉ ngơi trước và sau khi sinh con là biện pháp cần thiết được áp dụng. Theo đó, từ ngày 01/7/2026, lao động nữ khi sinh con thứ hai sẽ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng. Ngoài ra, lao động nam cũng được nghỉ 10 ngày làm việc khi vợ sinh con.

    CSPL: Điểm a khoản 1 Điều 14, khoản 1 Điều 29 Luật Dân số năm 2025.

    7. Chính thức vận hành Nền tảng hợp đồng lao động điện tử:

    Nền tảng hợp đồng lao động điện tử do Bộ Nội vụ quản lý chính thức được đưa vào vận hành trên phạm vi toàn quốc từ ngày 01/7/2026. Nền tảng có chức năng tiếp nhận, quản lý, cấp mã định danh và lưu trữ dữ liệu hợp đồng lao động điện tử. Việc triển khai hợp đồng lao động điện tử cũng như đưa vào vận hành chính thức Nền tảng hợp đồng lao động điện tử không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình giao kết, thực hiện quan hệ lao động mà còn góp phần xây dựng môi trường làm việc hiện đại, minh bạch, phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế số và tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

    Hợp đồng lao động điện tử có giá trị pháp lý như hợp đồng lao động bằng văn bản giấy. Điều này đồng nghĩa với việc quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên khi tham gia hợp đồng lao động điện tử được bảo đảm tương tự như đối với hợp đồng lao động truyền thống. Sau khi hợp đồng lao động điện tử được ký kết và xác thực, dữ liệu sẽ được gửi về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử để thực hiện cấp mã định danh và lưu trữ.

      - Về mã định danh: Theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 08/2026/TT-BNV ngày 15/5/2026 thì mỗi hợp đồng lao động điện tử khi được gửi về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử nếu đảm bảo quy định sẽ được cấp một ID duy nhất và không trùng lặp với bất kỳ hợp đồng lao động điện tử nào khác. ID được cấp một lần, không thay đổi cả trong trường hợp hợp đồng lao động điện tử được sửa đổi, bổ sung, tạm hoãn hoặc chấm dứt. Phụ lục, thông báo tạm hoãn, thông báo chấm dứt hợp đồng lao động điện tử được gắn ID của hợp đồng lao động điện tử đó.

      - Về thời hạn lưu trữ: Theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Thông tư số 08/2026/TT-BNV ngày 15/5/2026 thì thời hạn lưu trữ dữ liệu về hợp đồng lao động điện tử, phụ lục hợp đồng lao động điện tử và các văn bản điện tử khác liên quan trên Nền tảng hợp đồng lao động điện tử10 năm kể từ ngày hợp đồng lao động chấm dứt. Trường hợp người sử dụng lao động và người lao động giao kết nhiều hợp đồng lao động liên tục theo quy định tại Điều 20 Bộ luật Lao động năm 2019 thì thời hạn 10 năm được tính từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động cuối cùng.

    Nhìn chung, các chính sách pháp luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 đều hướng tới mục tiêu nâng cao tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật. Việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các quy định mới đã góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập của các quy định trước đây, tạo lập hành lang pháp lý minh bạch, ổn định và phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đồng thời, các chính sách này cũng phản ánh xu hướng đổi mới tư duy lập pháp và bảo đảm hiệu quả thực thi pháp luật.

    CÔNG TY LUẬT TNHH DL PINNACLE

    Thông tinLiên hệ
    Địa chỉTầng 5, 25 Nguyễn Văn Nguyễn, phường Tân Định, Thành phố Hồ Chí Minh
    Hotline0914491911
    Emailinfo@dlpinnacle.vn
    Websitehttps://www.dlpinnacle.vn