DL PINNACLE – ĐIỂM TỰA PHÁP LÝ, VỊ THẾ TIÊN PHONG
CALL zalo facebook scroll to tOP

NHẬN DIỆN VÀ XỬ LÝ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 2

Luật sư: Nguyễn Bá Tùng
Cập nhật: 05:59, Thứ Sáu 04/09/2026

Đánh giá 1 sao hàng loạt, chạy quảng cáo từ khóa thương hiệu đối thủ và đăng bài gièm pha trên mạng xã hội – Góc nhìn pháp lý và giải pháp xử lý cho doanh nghiệp.

NHẬN DIỆN VÀ XỬ LÝ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 2

Câu hỏi pháp lý: Doanh nghiệp A và B cùng kinh doanh mặt hàng mỹ phẩm. Sau đó, doanh nghiệp A đã thuê người dùng nhiều tài khoản giả để đánh giá 1 sao sản phẩm của B, đồng thời chạy quảng cáo bằng từ khóa chứa tên thương hiệu của doanh nghiệp B và đăng bài trên mạng xã hội cho rằng sản phẩm của doanh nghiệp B là hàng kém chất lượng.

Như vậy, doanh nghiệp A đang có dấu hiệu hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không và doanh nghiệp B phải có hành động như thế nào để bảo vệ quyền lợi của mình?

1. Các hành vi của doanh nghiệp A đang có dấu hiệu hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không?

Theo đó, có thể nhận thấy được rằng doanh nghiệp A đã thực hiện một số hành vi có dấu hiệu xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp B, cụ thể:

  • Thuê người khác để sử dụng các tài khoản giả đánh giá 1 sao sản phẩm của doanh nghiệp B. Hành vi này đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín, hình ảnh và khả năng tiếp cận khách hàng của doanh nghiệp B;
  • Chạy quảng cáo bằng từ khoá chứa tên thương hiệu của doanh nghiệp B để nhằm thu hút khách hàng đang có nhu cầu tìm kiếm sản phẩm của doanh nghiệp B;
  • Đăng những thông tin có nội dung chê bai sản phẩm doanh nghiệp B là hàng kém chất lượng nhưng không có căn cứ rõ ràng. Hành vi này làm ảnh hưởng đến uy tín, danh tiếng và niềm tin của người tiêu dùng đối với doanh nghiệp B.

Căn cứ theo khoản 3 và khoản 5 Điều 45 của Luật cạnh tranh 2018, các hành vi nêu trên có dấu hiệu thuộc nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị pháp luật cạnh tranh nghiêm cấm, đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp A thực hiện nhằm mục đích gây thiệt hại hoặc làm giảm uy tín, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp B, đồng thời thu hút khách hàng của doanh nghiệp B về phía mình.

2. Doanh nghiệp B phải có hành động như thế nào để bảo vệ quyền lợi của mình

Trong trường hợp nhận thấy doanh nghiệp A có hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, doanh nghiệp B có thể chủ động thực hiện các bước như sau để bảo vệ quyền lợi của mình:

Thứ nhất, thu thập các tài liệu, chứng cứ liên quan về hành vi vi phạm của doanh nghiệp A.

Doanh nghiệp B cần thu thập và lưu giữ các tài liệu, hình ảnh, đường dẫn, nội dung quảng cáo, đánh giá, các bài đăng đánh giá chê bai sản phẩm trên mạng xã hội; thông tin về các tài khoản thực hiện đánh giá sản phẩm cùng với thông tin đơn hàng về sản phẩm của tài khoản đó; dữ liệu thể hiện việc sử dụng từ khóa thương hiệu; cũng như các tài liệu chứng minh mối liên hệ giữa doanh nghiệp A với các hành vi nêu trên. Việc xác lập và bảo toàn chứng cứ có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý vụ việc.

Thứ hai, thực hiện quyền khiếu nại vụ việc cạnh tranh đến Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.

Căn cứ theo khoản 2 Điều 77 Luật Cạnh tranh 2018 thì thời hiệu khiếu nại là 03 năm kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện. Để thực hiện quyền khiếu nại và đề nghị Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia tiến hành xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp A, doanh nghiệp B cần chuẩn bị hồ sơ khiếu nại theo quy định pháp luật, trong đó bao gồm các tài liệu chủ yếu sau:

  • Đơn khiếu nại: được lập theo mẫu do Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia ban hành, trong đó nêu rõ thông tin của bên khiếu nại (doanh nghiệp A), bên bị khiếu nại (doanh nghiệp B), nội dung khiếu nại, hành vi có dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh và các yêu cầu của bên khiếu nại;
  • Tài liệu chứng cứ: bao gồm các tài liệu, dữ liệu điện tử, hình ảnh, đường dẫn, nội dung quảng cáo, bài viết, bài đánh giá của khách hàng và các tài liệu khác có liên quan nhằm chứng minh hành vi của doanh nghiệp A có dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh và gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp B;
  • Tài liệu khác liên quan: các thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan mà doanh nghiệp B cho rằng cần thiết để hỗ trợ cho việc giải quyết vụ việc.

Sau khi chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu và chứng cứ theo quy định, doanh nghiệp B thực hiện việc nộp hồ sơ khiếu nại đến Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia để được xem xét, thụ lý và giải quyết theo trình tự, thủ tục pháp luật về cạnh tranh.

Tuỳ thuộc vào hành vi và kết quả xác minh từ phía Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia mà doanh nghiệp A có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, ví dụ như: cảnh cáo, phạt tiền, buộc cải chính công khai, buộc loại bỏ yếu tố vi phạm hoặc buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu,…

Thứ ba, trong trường hợp doanh nghiệp B đã phát sinh thiệt hại thực tế do các hành vi của doanh nghiệp A gây ra thì có thể khởi kiện dân sự để yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Các tài liệu, chứng cứ mà doanh nghiệp A thu thập được phải thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của doanh nghiệp A và gây thiệt hại thực tế đến cho doanh nghiệp B.

Như vậy, doanh nghiệp B không nhất thiết chỉ sử dụng việc khiếu nại đến Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia mà còn có thể tiến hành khởi kiện dân sự để yêu cầu bồi thường thiệt hại thực tế mà doanh nghiệp A đã gây ra. Việc lựa chọn phương án phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp B vừa ngăn chặn hành vi vi phạm, vừa bảo vệ uy tín, thương hiệu và quyền lợi của mình.

Thông tinLiên hệ
Địa chỉTầng 5, 25 Nguyễn Văn Nguyễn, phường Tân Định, Thành phố Hồ Chí Minh
Hotline0914491911
Emailinfo@dlpinnacle.vn
Websitehttps://www.dlpinnacle.vn