DL PINNACLE – ĐIỂM TỰA PHÁP LÝ, VỊ THẾ TIÊN PHONG
CALL zalo facebook scroll to tOP

HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ CÓ THỂ THAY THẾ HOÀN TOÀN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG GIẤY? GÓC NHÌN PHÁP LÝ.

Những năm gần đây, trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ, hợp đồng điện tử đang ngày càng trở nên phổ biến bởi sự tiện lợi, nhanh chóng và tiết kiệm chi phí so với hợp đồng truyền thống. Bắt kịp xu thế thời đại, Bộ luật Lao động năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) đã chính thức cho phép áp dụng công nghệ số vào quản lý quan hệ lao động bằng việc ghi nhận giá trị pháp lý của hợp đồng lao động (“HĐLĐ”) được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu.

HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ CÓ THỂ THAY THẾ HOÀN TOÀN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG GIẤY? GÓC NHÌN PHÁP LÝ.

Nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho HĐLĐ điện tử, ngày 24/12/2025, Chính Phủ đã ban hành Nghị định 337/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/01/2026) (“Nghị định 337”), xác lập cơ chế riêng biệt trong việc giao kết, ký số, chứng thực và quản lý HĐLĐ thông qua hình thức thông điệp dữ liệu, bảo đảm hiệu lực pháp lý tương đương HĐLĐ bằng văn bản giấy.

1. Khái quát về HĐLĐ điện tử

1.1. Định nghĩa

Căn cứ khoản 1 Điều 3 Nghị định 337, HĐLĐ điện tử được định nghĩa là HĐLĐ được giao kết, thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về giao dịch điện tử, có giá trị pháp lý như HĐLĐ bằng văn bản giấy.

1.2. Hiệu lực

Căn cứ Điều 7 Nghị định 337, HĐLĐ điện tử có hiệu lực kể từ thời điểm bên sau cùng ký số, dấu thời gian gắn kèm chữ ký số của các chủ thể tham gia giao kết và chứng thực thông điệp dữ liệu của Nhà cung cấp Hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử trong giao kết, thực hiện HĐLĐ điện tử (“eContract”) vào HĐLĐ điện tử, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Sự khác biệt so với HĐLĐ bằng văn bản giấy:

ALT

2. Giao kết HĐLĐ điện tử

2.1. Chủ thể tham gia giao kết

Chủ thể tham gia hoạt động giao kết HĐLĐ điện tử bao gồm:

  • Người lao động (“NLĐ”);
  • Người sử dụng lao động (“NSDLĐ”);
  • Nhà cung cấp eContract.

2.2. Phương thức giao kết

Việc giao kết HĐLĐ điện tử phải được thực hiện thông qua eContract. Trong đó, eContract phải bảo đảm các điều kiện sau:

  • Có sử dụng phần mềm ký số, kiểm tra chữ ký số đáp ứng yêu cầu của pháp luật về giao dịch điện tử.
  • Có biện pháp bảo mật để bảo đảm an toàn thông tin khách hàng và dữ liệu HĐLĐ điện tử.
  • Có phương án kỹ thuật bảo đảm duy trì và khắc phục hoạt động chứng thực hợp đồng điện tử khi có sự cố xảy ra.
  • Có phương án lưu trữ, bảo đảm tính toàn vẹn dữ liệu của chứng từ điện tử; bảo đảm khả năng tra cứu HĐLĐ điện tử đã được giao kết.
  • Có chức năng bảo đảm được định danh đúng chủ thể và thực hiện xác thực danh tính theo quy định của pháp luật về định danh và xác thực điện tử NLĐ và NSDLĐ.
  • Có biện pháp kỹ thuật để xác nhận việc tổ chức, cá nhân đã được định danh đồng ý với các nội dung trong HĐLĐ.
  • Có chức năng chứng thực HĐLĐ điện tử theo quy định.
  • Có chức năng chuyển đổi hình thức giữa HĐLĐ điện tử và HĐLĐ bằng văn bản giấy.
  • Cung cấp tài khoản giao dịch điện tử tuân thủ các điều kiện quy định tại Điều 46 Luật Giao dịch điện tử năm 2023.
  • Có chức năng hỗ trợ NSDLĐ báo cáo tình hình sử dụng lao động.
  • Có chức năng tổng hợp, thống kê, báo cáo định kỳ hoặc đột xuất phục vụ quản lý giao dịch HĐLĐ điện tử.
  • Kết nối qua giao diện lập trình ứng dụng tiêu chuẩn (API) với Nền tảng HĐLĐ điện tử theo quy định của Bộ Nội vụ.
  • Bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật về an toàn thông tin theo quy định về pháp luật an toàn thông tin mạng.

2.3. Điều kiện đối với chủ thể tham gia giao kết

2.3.1. Đối với NLĐ và NSDLĐ

(a) Điều kiện chung: Có chữ ký số và sử dụng dịch vụ cấp dấu thời gian theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

(b) Điều kiện riêng:

(i) NLĐ:

Có giấy tờ tùy thân, bao gồm:

  • Thẻ căn cước công dân/Thẻ căn cước/Căn cước điện tử/Giấy chứng nhận căn cước/Tài khoản định danh điện tử mức độ 2/Hộ chiếu còn thời hạn.
  • Thị thực (Visa) nhập cảnh còn thời hạn/Giấy tờ chứng minh được miễn thị thực nhập cảnh (đối với người nước ngoài).

(ii) NSDLĐ:

NSDLĐ là cá nhân: Có giấy tờ tuỳ thân được liệt kê tại Mục 2.3.1 (b) (i) nêu trên.

NSDLĐ là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình:

  • Quyết định thành lập/quyết định quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức/Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp/Giấy chứng nhận đầu tư/Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh;
  • Giấy tờ tùy thân của người đại diện theo pháp luật (là giấy tờ tuỳ thân được liệt kê tại Mục 2.3.1 (b) (i) nêu trên).

2.3.2. Đối với Nhà cung cấp eContract:

(i) Có eContract đáp ứng điều kiện tại Mục 2.2 nêu trên;

(ii) Có giải pháp, công nghệ để:

  • Thu thập, kiểm tra, đối chiếu, bảo đảm sự khớp đúng giữa thông tin nhận biết tổ chức, cá nhân, dữ liệu sinh trắc học người đại diện theo pháp luật của tổ chức, cá nhân (như vân tay, khuôn mặt, mống mắt, giọng nói và các yếu tố sinh trắc học khác) với các thông tin, yếu tố sinh trắc học tương ứng trên giấy tờ;
  • Bảo đảm được định danh đúng chủ thể và thực hiện xác thực danh tính theo quy định của pháp luật về định danh và xác thực điện tử.
  • (iii) Có Giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy có loại dịch vụ được phép kinh doanh là cung cấp dịch vụ chứng thực thông điệp dữ liệu theo pháp luật giao dịch điện tử.

2.4. Quy trình giao kết

ALT

3. Nền tảng HĐLĐ điện tử

Nền tảng HĐLĐ điện tử là hạ tầng trọng tâm của mô hình quản lý mới về lao động, được quy định tại Chương III Nghị định 337, đây là hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử quy mô lớn, do Bộ Nội vụ xây dựng, vận hành, quản lý; có chức năng quản lý tập trung dữ liệu về HĐLĐ điện tử và cung cấp các dịch vụ dùng chung cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình và cá nhân trên phạm vi cả nước (Khoản 2 Điều 3 Nghị định 337).

Chậm nhất đến 01/7/2026, Nền tảng HĐLĐ điện tử phải chính thức đi vào vận hành, đánh dấu việc triển khai đồng bộ HĐLĐ điện tử trên phạm vi cả nước (Khoản 1 Điều 28 Nghị định 337).

4. Chuyển đổi hình thức từ HĐLĐ bằng văn bản giấy sang HĐLĐ điện tử

Căn cứ Điều 8 Nghị định 337 và Điều 12 Luật Giao dịch điện tử năm 2023, HĐLĐ điện tử được chuyển đổi từ HĐLĐ bằng văn bản giấy phải đáp ứng các yêu cầu sau:

  • Chủ thể giao kết HĐLĐ bằng văn bản phải được xác thực theo quy định của pháp luật về định danh và xác thực điện tử.
  • HĐLĐ điện tử được chuyển đổi phải được ký số bởi người có thẩm quyền của NSDLĐ để xác nhận tính chính xác, đầy đủ so với bản gốc và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung chuyển đổi.
  • HĐLĐ điện tử sau khi chuyển đổi phải được gắn ID.
  • Thông tin trong HĐLĐ điện tử được bảo đảm toàn vẹn như HĐLĐ bằng văn bản giấy.

Như vậy, việc chuyển đổi từ HĐLĐ bằng văn bản giấy sang HĐLĐ điện tử được pháp luật cho phép và bảo đảm giá trị pháp lý tương đương với bản gốc khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.

5. HĐLĐ điện tử có thể thay thế hoàn toàn HĐLĐ bằng văn bản giấy không?

Có thể khẳng định, so với HĐLĐ bằng văn bản giấy thì HĐLĐ điện tử có nhiều ưu thế vượt trội như:

  • Tiết kiệm thời gian, chi phí và giấy tờ do quy trình ký kết, lưu trữ và quản lý được đơn giản hóa.
  • Được lưu trữ an toàn và bảo mật trong hệ thống điện tử, đảm bảo tính minh bạch, không thể chối bỏ và hạn chế việc giả mạo, sửa đổi trái phép.
  • Tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ quan quản lý nhà nước.

Dù vậy, trong bối cảnh hiện nay, HĐLĐ điện tử chưa thể thay thế hoàn toàn HĐLĐ bằng văn bản giấy, bởi lẽ:

Về nguyên tắc chung, hiện nay không có bất kỳ quy định pháp luật nào bắt buộc các chủ thể phải sử dụng HĐLĐ điện tử/chuyển đổi HĐLĐ bằng văn bản giấy sang điện tử, nhà nước chỉ khuyến khích sử dụng HĐLĐ điện tử thay thế cho HĐLĐ bằng văn bản giấy trong quản trị nhân sự của NSDLĐ và giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến HĐLĐ (khoản 3 Điều 4 Nghị định 337).

Bên cạnh đó, việc triển khai rộng rãi hình thức HĐLĐ này vẫn còn nhiều thách thức như:

liít

Phần lớn các chủ thể vẫn quen với HĐLĐ bằng văn bản giấy và có xu hướng e ngại khi chuyển sang phương thức điện tử do lo ngại về tính bảo mật và giá trị pháp lý.

Việc áp dụng HĐLĐ điện tử đòi hỏi phải sử dụng các nền tảng chữ ký số cũng như eContract an toàn, đáng tin cậy và tuân thủ quy định pháp luật Việt Nam, đặt ra yêu cầu NSDLĐ phải lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ phù hợp. Điều này có thể phát sinh khó khăn về chi phí hạ tầng công nghệ và năng lực kỹ thuật, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ.

NSDLĐ cần bảo đảm việc sử dụng chữ ký điện tử đáp ứng các điều kiện về tính hợp lệ và khả năng thực thi theo quy định pháp luật, đồng thời nắm rõ khung pháp lý điều chỉnh để hạn chế rủi ro và tranh chấp phát sinh. Trong khi đó, nhiều NLĐ và NSDLĐ còn nhận thức và hiểu biết hạn chế đối với chữ ký điện tử.

    Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, việc thừa nhận và hoàn thiện khung pháp lý đối với HĐLĐ điện tử là một bước tiến tất yếu, phù hợp với xu hướng quản trị hiện đại. Với việc ban hành Nghị định 337/2025/NĐ-CP, hệ thống pháp luật Việt Nam đã thiết lập một cơ chế tương đối đầy đủ, chuyên biệt nhằm bảo đảm giá trị pháp lý, tính an toàn và khả năng vận hành thực tiễn của HĐLĐ điện tử. Đồng thời, sự ra đời của Nền tảng HĐLĐ điện tử cấp quốc gia hứa hẹn sẽ tạo ra một hệ sinh thái đồng bộ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và hỗ trợ doanh nghiệp trong việc số hóa hoạt động nhân sự.

    Tuy nhiên, từ góc độ pháp lý và thực tiễn triển khai, có thể khẳng định rằng HĐLĐ điện tử chưa thể thay thế hoàn toàn HĐLĐ bằng văn bản giấy trong giai đoạn hiện nay. Việc áp dụng hình thức HDLĐ này chỉ mang tính khuyến khích, phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng về hạ tầng công nghệ, nhận thức của các chủ thể và khả năng đáp ứng các điều kiện pháp lý liên quan.

    CÔNG TY LUẬT TNHH DL PINNACLE

    Thông tinLiên hệ
    Địa chỉTầng 3, 18A/76 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh
    Hotline0914491911
    Emailinfo@dlpinnacle.vn
    Websitehttps://www.dlpinnacle.vn