Bản chất pháp lý của quan hệ góp vốn kinh doanh và hợp tác kinh doanh theo pháp luật Việt Nam
Các nhà đầu tư nước ngoài hoặc trong nước có nguyện vọng muốn hợp tác đầu tư, kinh doanh với các cá nhân, tổ chức kinh tế tại Việt Nam có thể lựa chọn hình thức đầu tư như góp vốn hoặc hợp tác kinh doanh. Mỗi hình thức đầu tư đều có những ưu điểm, nhược điểm nó có thể mang lại cho nhà đầu tư. Vì thế, tùy theo nhu cầu của nhà đầu tư mà có thể lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp.
Mục lục
Tổng quan và so sánh sự khác nhau giữa quan hệ góp vốn kinh doanh và hợp tác kinh doanh theo quy định pháp luật Việt Nam như sau:
| Tiêu chí so sánh | Góp vốn kinh doanh Luật Doanh nghiệp 2020 – Điều 34 | Hợp tác kinh doanh theo phương thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) Luật Đầu tư 2025 – Khoản 14 Điều 3 |
|---|---|---|
| I. BẢN CHẤT VÀ NỀN TẢNG PHÁP LÝ | ||
| Định nghĩa | Việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty — góp vốn để thành lập hoặc tăng thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp hiện hữu. Cơ sở pháp lý: Điều 34 Luật Doanh nghiệp 2020 | Hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận hoặc sản phẩm mà không cần thành lập tổ chức kinh tế. Cơ sở pháp lý: Khoản 14, Điều 3 Luật Đầu tư 2025 |
| Luật điều chỉnh chính | Bộ luật Dân sự 2015 + Luật Doanh nghiệp 2020 | Bộ luật Dân sự 2015 + Luật Đầu tư 2025 |
| Bản chất hợp đồng | Là dạng hợp đồng theo mẫu, thỏa thuận giữa các bên bị ràng buộc với điều lệ công ty và phải tuân theo quy định của Luật doanh nghiệp 2020. | Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract) là hợp đồng dân sự thuần túy, tôn trọng, đề cao sự thỏa thuận giữa các bên, không bị ràng buộc với điều lệ công ty. |
| II. CHỦ THỂ VÀ PHÁP NHÂN | ||
| Hình thành pháp nhân mới | Có thể có hoặc không. Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty, bao gồm góp vốn để thành lập công ty hoặc góp thêm vốn điều lệ của công ty đã được thành lập. Cơ sở pháp lý: khoản 18, Điều 4 Luật doanh nghiệp 2020 | Không. Khi hợp tác kinh doanh, các bên không cần thành lập pháp nhân mới. Cơ sở pháp lý: khoản 14 Điều 3 Luật Đầu tư 2025. |
| Tư cách pháp lý sau khi ký | Người góp vốn trở thành thành viên góp vốn/ cổ đông của công ty | Các bên vẫn độc lập hoàn toàn> về trách nhiệm pháp lý; mỗi bên tự chịu trách nhiệm trong phạm vi đã thỏa thuận |
| Chủ thể tham gia | Nhà đầu tư nước ngoài hoặc các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 17, 18 Luật Doanh nghiệp 2020 | Nhà đầu tư nước ngoài hoặc nhà đầu tư trong nước |
| Vốn điều lệ | Được ghi nhận trong vốn điều lệ công ty, có thể định lượng chính xác phần vốn góp/cổ phần mỗi bên đang sở hữu | Không thành lập pháp nhân mới mà hoạt động bằng pháp nhân hiện hữu của một trong các bên hợp tác, vì thế không có nguồn vốn điều lệ chung |
| Đối tượng phù hợp cần áp dụng | -Khi các cá nhân, tổ chức kinh tế trong nước muốn cùng góp vốn kinh doanh thì lựa chọn hình thức góp vốn kinh doanh này. - Khi các tổ chức kinh tế nước ngoài muốn đầu tư kinh doanh ngành, nghề không có điều kiện tại Việt Nam để thực hiện nhiều dự án quy mô lớn và dài hạn. | Khi các nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư kinh doanh dự án quy mô nhỏ, ngắn hạn ở Việt Nam, có thể cùng hợp tác kinh doanh với tổ chức kinh tế trong nước đang hoạt động. |
| III. QUYỀN LỢI, LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO | ||
| Cơ sở xác định quyền lợi, lợi nhuận | - Quyền lợi, lợi nhuận phân chia dựa trên tỷ lệ phần vốn góp/sở hữu cổ phần của mỗi thành viên góp vốn/cổ đông theo quy định tại điều lệ công ty và theo quy định của Luật doanh nghiệp 2020. - Quyền biểu quyết trong hoạt động kinh doanh của công ty tương ứng với tỷ lệ sở hữu phần vốn góp/cổ phần của từng thành viên góp vốn/cổ đông trong công ty. | -Quyền lợi, lợi nhuận của các bên được quy định cụ thể trong Hợp đồng hợp tác kinh doanh trên cơ sở thỏa thuận hợp tác và không bị ràng buộc bởi Luật Doanh nghiệp 2020 - Quyền biểu quyết đều ngang bằng nhau, không phân biệt phần đóng góp của các bên ít hay nhiều hơn so với các bên còn lại. |
| Phân chia rủi ro | Sau khi góp vốn, rủi ro phát sinh sẽ do công ty (pháp nhân) chịu trách nhiệm bằng nguồn vốn điều lệ hiện hữu; thành viên góp vốn/cổ đông chỉ chịu rủi ro trong phạm vi phần vốn góp đã góp. | Các bên cùng chịu rủi ro theo thỏa thuận tại hợp đồng hợp tác kinh doanh. Thông thường, các bên chấp nhận chịu rủi ro theo tỉ lệ đóng góp (tương tự như góp vốn kinh doanh); |
| Quản lý hoạt động | Bộ máy quản trị công ty (Hội đồng thành viên/Hội đồng quản trị/Đại hội đồng cổ đông,…) được quy định trong điều lệ công ty. | Các bên thỏa thuận thành lập Ban điều phối gồm chức năng, quyền hạn do các bên tự xác định Cơ sở pháp lý: Điều 27 Luật Đầu tư 2025; |
| IV. ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ | ||
| Ưu điểm nổi bật | - Tạo ra thực thể pháp lý bền vững, minh bạch quyền sở hữu; - Tăng độ uy tín cho tổ chức kinh tế khi có nhu cầu huy động vốn, chuyển nhượng cổ phần/phần vốn góp hơn - Giảm rủi ro khi tài sản góp vốn là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng khi nhà đầu tư muốn rút vốn; - Quyền biểu quyết tương ứng với tỷ lệ sở hữu phần vốn góp/cồ phần của từng thành viên/cổ đông của công ty. | - Linh hoạt, không cần thành lập pháp nhân; các bên hợp tác vẫn có thể có tư cách pháp lý độc lập khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. - Không bị ràng buộc quy định về ngành nghề tiếp cận thị trường có điều kiện, ngành nghề hạn chế tiếp cận thị trường hoặc bị cấm đối với các nhà đầu tư nước ngoài vì không thành lập pháp nhân mới. Nhà đầu tư nước ngoài vẫn có thể tham gia hoạt động kinh doanh các ngành, nghề trên mà không bị hạn chế. - Các bên có thể quy định thời hạn hợp tác mà không phải thực hiện các thủ tục pháp lý rườm rà khác như chuyển nhượng, tặng cho,… như hoạt động góp vốn kinh doanh. - Có thể đóng góp bằng nhiều loại tài sản, trong đó có góp vốn bằng công sức đóng góp, và các bên sẽ thống nhất quy đổi công sức đóng góp thành con số giá trị để xác định tỷ lệ đóng góp của các bên. |
| Hạn chế | - Việc kinh doanh nhiều ngành, nghề kinh doanh có điều kiện sẽ gây khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài khi muốn tiếp cận, nhiều ngành nghề phát triển tiềm năng nhưng nhà đầu tư nước ngoài không thể góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp, cũng như không thể trực tiếp đầu tư kinh doanh. - Các nhà đầu tư rất khó để rút vốn khi không muốn kinh doanh nữa, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Việc rút vốn buộc các nhà đầu tư phải chuyển nhượng toàn bộ số vốn hiện hữu của họ. Tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài thường sở hữu lượng vốn rất to, khiến cho việc tìm kiếm nhà đầu tư tiềm năng khác mua lại rất khó khăn. - Bắt buộc góp vốn bằng hiện vật, tài sản (đăng ký hoặc không đăng ký, quyền sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp,…) trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày đăng ký. Vì vậy, nếu không góp đủ vốn trong thời hạn nêu trên, buộc phải khai trừ thành viên góp vốn/cổ đông không góp đủ vốn ra khỏi công ty. Nếu không, doanh nghiệp sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. | (IRC); không đăng ký thì hợp đồng hợp tác kinh doanh có nguy cơ vô hiệu. - Ngoài ra, các rủi ro khác bao gồm: hợp tác kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện yêu cầu đăng ký giấy phép hoạt động nhưng chưa được cấp phép đều có thể dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu một phần hoặc toàn bộ. - Bất cập về quyền biểu quyết không tương xứng với tỷ lệ vốn góp. Khoản 2 Điều 507 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định chung chung thành viên hợp tác có quyền "tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến thực hiện hợp đồng hợp tác, giám sát hoạt động hợp tác". Quy định này dẫn đến nhiều cách hiểu không thống nhất và một trong những quan điểm được chấp nhận phổ biến là mặc dù là thành viên có nhiều đóng góp hơn nhưng họ cũng chỉ được hưởng quyền biểu quyết ngang với các thành viên còn lại. Điều này là bất hợp lý, do họ đã đóng góp rất nhiều, tức là việc thực hiện hợp đồng sẽ mang cho họ nhiều rủi ro hơn đối với tài sản của mình. |
Về bản chất pháp lý, góp vốn kinh doanh gắn liền với việc hình thành một nguồn vốn điều lệ của một pháp nhân có đủ năng lực, hành vi dân sự sẽ tạo ra một sợi dây liên kết, ràng buộc về tài sản và quyền sở hữu tài sản bằng khung pháp lý bảo hộ toàn diện là Luật Doanh nghiệp 2020 và Bộ luật dân sự 2015. Ngược lại, hợp tác kinh doanh theo hợp đồng BCC là sự liên kết giữa các nhà đầu tư trên tinh thần tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi. Hệ quả không tạo ra pháp nhân mới, nhưng đòi hỏi sự tin tưởng và hợp tác ăn ý giữa các bên trong suốt quá trình thực hiện.
Thực tiễn cho thấy, không có hình thức đầu tư nào là hoàn hảo và phù hợp tuyệt đối với mọi tình huống. Việc lựa chọn giữa góp vốn kinh doanh và hợp tác kinh doanh theo hợp đồng BCC phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô dự án, thời hạn hợp tác, ngành nghề kinh doanh, quốc tịch của nhà đầu tư, và đặc biệt là mục tiêu chiến lược dài hạn mà các bên hướng tới.
CÔNG TY LUẬT TNHH DL PINNACLE
| Thông tin | Liên hệ |
|---|---|
| Địa chỉ | Tầng 3, 18A/76 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh |
| Hotline | 0914491911 |
| info@dlpinnacle.vn | |
| Website | https://www.dlpinnacle.vn |