Ngày 10/12/2025, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi), thay thế cho Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007. Luật mới sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Đây được xem là cột mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển mình toàn diện, tích cực trong chính sách quản lý thuế thời kỳ đổi mới nhằm làm rõ hơn khung pháp lý, giảm thiểu gánh nặng thuế cho người lao động, đảm bảo môi trường thuế được công bằng, linh hoạt và phù hợp hơn với đa dạng nhóm đối tượng từ người làm công ăn lương, hộ kinh doanh cá thể đến doanh nghiệp.
1. Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) được hiểu như nào?
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) có thể được hiểu là một loại thuế trực thu, được Nhà nước áp dụng đối với thu nhập chịu thuế của cá nhân phát sinh trong một khoảng thời gian nhất định, được xác định trên cơ sở khả năng nộp thuế của người nộp thuế, sau khi đã trừ các khoản được miễn, giảm và giảm trừ gia cảnh theo quy định của pháp luật.
Thuế thu nhập cá nhân đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp, bảo đảm nguyên tắc công bằng xã hội, thực hiện chính sách an sinh xã hội và tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
2. Người nộp thuế:
Người nộp thuế thu nhập cá nhân gồm:
- Cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025 phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam;
- Cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025 phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.
* Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau, nếu không đáp ứng điều kiện thì cá nhân được coi là không cư trú:
- Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong 01 năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;
- Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.
CSPL: Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025
3. Thu nhập chịu thuế là thu nhập từ tiền lương, tiền công:
Thu nhập từ tiền lương, tiền công chịu thuế thu nhập cá nhân gồm:
- Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
- Tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức;
- Các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chi trả; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác không mang tính chất tiền lương, tiền công do Chính phủ quy định.
CSPL: Khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025
4. Phương thức xác định thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công:
4.1. Đối với cá nhân cư trú:
Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được tính theo công thức sau:
Thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất (Tại Biểu thuế lũy tiến từng phần)
Trong đó:
Thu nhập tính thuế = Tổng thu nhập chịu thuế (Tổng thu nhập từ tiền lương, tiền công) - Các khoản đóng góp bảo hiểm, các khoản giảm trừ (gồm: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ không vượt quá mức do Chính phủ quy định; giảm trừ gia cảnh; giảm trừ đóng góp từ thiện, nhân đạo; giảm trừ khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo;…)
4.2. Đối với cá nhân không cư trú:
Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được tính theo công thức sau:
Thuế TNCN phải nộp = Tổng số tiền lương, tiền công do thực hiện công việc tại Việt Nam x Thuế suất 20%
4.3. Thay đổi trong phương thức xác định thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công từ năm 2026:
a. Điều chỉnh cách xác định thu nhập chịu thuế, bổ sung các khoản giảm trừ:
Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025 đã thu hẹp phạm vi của thu nhập chịu thuế đối với tiền lương, tiền công khi loại bỏ một số hình thức phát sinh thu nhập khỏi thu nhập chịu thuế như: Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức; Các khoản lợi ích mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền; Tiền thưởng.
Bên cạnh đó, Luật mới đã bổ sung các khoản giảm trừ gồm:
- Khoản đóng góp vào các tổ chức có chức năng huy động tài trợ được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
- Khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế, người phụ thuộc của người nộp thuế.
b. Tăng mức giảm trừ gia cảnh:
Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú. Mức giảm trừ gia cảnh mới được quy định như sau:
- Đối với người nộp thuế: Mức giảm trừ tăng từ 11 triệu đồng/tháng lên 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm);
- Đối với mỗi người phụ thuộc: Mức giảm trừ tăng từ 4,4 triệu đồng/tháng lên 6,2 triệu đồng/tháng.
c. Điều chỉnh biểu thuế lũy tiến từng phần:
Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025 đã điều chỉnh biểu thuế lũy tiến từng phần từ 07 bậc xuống còn 05 bậc:
| Bậc thuế | Phần thu nhập tính thuế/năm (triệu đồng) | Phần thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng) | Thuế suất (%) |
|---|---|---|---|
| 1 | Đến 120 | Đến 10 | 5 |
| 2 | Trên 120 đến 360 | Trên 10 đến 30 | 10 |
| 3 | Trên 360 đến 720 | Trên 30 đến 60 | 20 |
| 4 | Trên 720 đến 1.200 | Trên 60 đến 100 | 30 |
| 5 | Trên 1.200 | Trên 100 | 35 |
Thông qua việc giảm trừ số bậc của biểu thuế lũy tuyến từng phần, Luật mới đã tăng mức thu nhập phải chịu thuế suất 35% từ “trên 80 triệu đồng” lên đến “trên 100 triệu đồng”.
4.4. Áp dụng phương thức xác định thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công thông qua ví dụ:
Giả sử:
- Thu nhập từ tiền lương là 30 triệu đồng/tháng ;
- Bảo hiểm bắt buộc là 3 triệu đồng ;
- Không có người phụ thuộc.
-> Thu nhập tính thuế = 30 triệu đồng (Tiền lương) – 15,5 triệu đồng (Giảm trừ gia cảnh) – 3 triệu đồng (Khoản đóng góp bảo hiểm) = 11,5 triệu đồng
=> 11,5 triệu đồng được xác định:
+ 10 triệu đồng đầu tiên : 10 × Thuế suất 5% = 0,5 triệu đồng (1)
+ 1,5 triệu đồng còn lại: 1,5 × Thuế suất 10% = 0,15 triệu đồng (2)
Tổng số tiền thuế TNCN phải nộp là (1) + (2) = 0,65 triệu đồng/tháng.
Những thay đổi trong phương thức xác định thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công phản ánh nỗ lực của Nhà nước trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế theo hướng phù hợp hơn với bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội. Từ góc độ pháp lý, các thay đổi này góp phần khắc phục những bất cập tồn tại trong cơ chế xác định thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công ở giai đoạn trước, đặc biệt là sự chưa tương xứng giữa nghĩa vụ thuế và mức sống thực tế của người lao động, cũng như những khó khăn trong việc áp dụng thống nhất các quy định pháp luật. Đồng thời, việc đổi mới phương thức xác định thuế còn tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho công tác quản lý thuế, tăng cường hiệu quả kiểm soát thu nhập và hạn chế các hành vi trốn tránh thuế. Tuy nhiên, để các quy định mới phát huy hiệu quả trong thực tiễn, cần có sự hướng dẫn chi tiết, đồng bộ từ cơ quan quản lý nhà nước, cũng như công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ của người nộp thuế.